Chương 1: Cơ sở lý luận chung về quản trị rủi ro tín dụng tại tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm tại thành phố Cao Lãnh. Chương 3: Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm tại thành phố Cao Lãnh. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TNHH MTV CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NGHÈO TỰ TẠO VIỆC LÀM (CEP) 1.
Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm về tín dụng Theo Anthony Saunders (2007): Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng, thu nhập dự tính mang lại khoản vay của ngân hàng không được thực hiện về số lượng và thời hạn. Theo nội dung Giáo trình tín dụng Ngân hàng (Hồ Diệu, 2011), định nghĩa tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán.Koch (2006): Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn. Theo Luật các Tổ chức tín dụng 2010, cấp tín dụng là một hoạt động tổ chức tín dụng được các tổ chức thực hiện nhằm cung ứng cho các tổ chức, cá nhân một khoản tiền để sử dụng cho hoạt động kinh doanh của mình theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Trong hoạt động cấp tín dụng thì hoạt động cho vay đối với tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền là quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng cao nhất trong hoạt động tín dụng của tổ chức tài chính. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này học viên tập trung phân tích về hoạt động cho vay tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm trên địa bàn thành phố Cao Lãnh. 8 Đặc trưng của tín dụng - Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền thể hiện mối quan hệ giữa người đi vay và người cho vay có mối quan hệ với nhau thông qua sự vận động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và hàng hoá từ người cho vay chuyển sang người đi vay để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi và sau một thời gian nhất định quay về với người cho vay với lượng giá trị lớn hơn ban đầu, được cấu thành nên từ sự kết hợp của ba yếu tố chính là: lòng tin; thời hạn của quan hệ tín dụng và sự hứa hẹn hoàn trả. - Tín dụng xuất phát từ chữ Credit trong tiếng Anh-có nghĩa là lòng tin, sự tin tưởng, tín nhiệm.
Yếu tố lòng tin mặc dù là yếu tố vô hình nhưng lại là yếu tố tiền đề để phát sinh quan hệ cho vay. Trong mối quan hệ này lòng tin được biểu hiện thông qua việc người ta chỉ cho vay khi người ta tin tưởng, người đi vay có ý muốn trả nợ và có khả năng trả nợ. Đồng thời người ta tin rằng người sử dụng lượng giá trị đó sẽ thu được lượng giá trị cao hơn, đạt hiệu quả sau một thời gian nhất định, người cho vay cũng tin tưởng người đi vay có ý muốn trả nợ thì quan hệ tín dụng mới xảy ra. Như vậy có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng.
- Yếu tố thứ hai cấu thành nên quan hệ cho vay chính là tính thời hạn: quan hệ cho vay chỉ trao đổi quyền sử dụng mà không trao đổi quyền sở hữu như các giao dịch mua bán hàng hóa thông thường. Bên cho vay giao tiền hoặc hàng hóa cho bên đi vay trong một thời gian theo thỏa thuận, sau khi bên đi vay khai thác hết giá trị sử dụng của khoản vay thì lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả đúng hạn về cả thời gian và giá trị bao gồm hai bộ phận : Gốc và lãi. Phần lãi phải đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời.
- Mọi khoản vay thực tế là hàng hoá và vì thế bản chất nó vẫn có giá trị và giá trị sử dụng. Trong hoạt động kinh doanh tín dụng, bên cho vay chỉ bán giá trị (quyền) sử dụng của khoản vay chứ không bán giá trị của khoản vay, do sự không cân xứng về thông tin và người cho vay không hiểu rõ hết về người đi vay, nên sau khi hết thời gian sử dụng theo cam kết, khoản vay đó được hoàn trả về và vẫn giữ nguyên giá trị của nó. Một mối quan hệ tín dụng được gọi là hoàn hảo nếu người đi vay hoàn trả được đầy đủ 9 gốc và lãi đúng thời hạn, phần lợi tức theo thoả thuận nếu có là giá bán quyền sử dụng khoản vay trong thời gian nhất định. - Cho vay có tính hoàn trả: Xuất phát từ bản chất của tín dụng là sự tín nhiệm, người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả vào một ngày trong tương lai.
Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời gian sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay hoàn trả cho người cho vay. Trong quan hệ tín dụng tài chính vi mô là việc cấp cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp các khoản vay nhỏ (gọi là tín dụng vi mô), tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định mối quan hệ cho vay như hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ…, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Các tổ chức tài chính vi mô khi cho vay bao giờ cũng kỳ vọng những đồng vốn bỏ ra của mình sẽ mang lại hiệu quả cho cả người đi vay và chính tổ chức tài chính vi mô.
Chính vì vậy, họ đưa ra các nguyên tắc để bắt buộc khách hàng tuân thủ nhằm đảm bảo sử dụng vốn đúng theo Kế hoạch được thỏa thuận với tổ chức. Các nguyên tắc tín dụng được tổ chức tài chính vi mô xây dựng dựa trên bản chất tín dụng của tài chính vi mô. Trong việc cấp tín dụng, các tổ chức tài chính vi mô xem các nguyên tắc này là cơ sở quyết định cấp tín dụng cho khách hàng. Hiện nay ở Việt Nam tổ chức tài chính vi mô đặt ra các nguyên tắc sau: Tiền vay được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng; Tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng.
Điều kiện cấp tín dụng là những yêu cầu của tổ chức tài chính vi mô đối với người vay để làm cơ sở xem xét, ra quyết định cho vay hay không cho vay. Khách hàng muốn được tổ chức tài chính vi mô cho vay vốn phải có các điều kiện cơ bản sau đây: Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và sự chịu trách nhiệm dân sự theo đúng quy định hiện hành; phải sử dụng vốn vay đúng mục đích; Có đủ năng lực tài chính để đảm bảo khả năng trả nợ theo đúng cam kết; Có phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với qui định của pháp luật; Thực hiện quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Các quan điểm về rủi ro tín dụng Thuật ngữ tín dụng credit bắt nguồn từ từ Creditium trong tiếng Latin có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Trong lĩnh vực kinh tế, tín dụng được hiểu như một quan hệ giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định.
Đồng thời, bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả theo thời hạn và lãi suất đã thoả thuận. Tín dụng là mối quan hệ được hình thành và tồn tại từ lâu đời. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các hình thức tín dụng mới ngày càng có trình độ cao hơn. Thực tế cho thấy đã xuất hiện nhiều hình thức tín dụng, bao gồm tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng.
Trong số các hình thức trên, hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô là rất quan trọng và được xem như một công cụ hiệu quả để thúc đẩy quá trình giảm nghèo và loại bỏ đói nghèo. Điều này là kết quả của việc triển khai đồng bộ các chính sách và biện pháp để thúc đẩy tài chính vi mô. Tín dụng tài chính vi mô có thể được hiểu là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là tổ chức tài chính vi mô và bên kia là các pháp nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế. Như vậy, tín dụng Tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ theo Khoản 5 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tài chính vi mô có xu hướng tập trung chủ yếu vào các hoạt động cho vay. Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra, có thể khiến Tổ chức tài chính vi mô rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng.