phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển cây ăn quả có múi theo hƣớng bền vững. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển cây ăn quả có múi theo hƣớng bền vững trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên tỉnh Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp phát triển cây ăn quả có múi trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên tỉnh Bình Dƣơng theo hƣớng bền vững. 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY ĂN QUẢ CÓ MÚI THEO HƢỚNG BỀN VỮNG 1.
Cơ sở lý luận phát triển bền vững 1. Khái niệm về phát triển Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm phát triển. Theo từ điển Tiếng Việt: “Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” (Hoàng Phê, 1994, tr. Theo chủ nghĩa Mác - Lênin: Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hƣớng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ thay thế cái lạc hậu. Còn theo nhà kinh tế học Dudley Seers (1969) tin rằng: Phát triển phải là sự tăng trƣởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Theo ông có ba câu hỏi liên quan đến vấn đề phát triển ở mỗi quốc gia (i) Tình trạng nghèo đói đang diễn ra nhƣ thế nào? (ii) Tình trạng thất nghiệp ra sao? (iii) Mức độ bất bình đẳng nhƣ thế nào? Nhƣ vậy, quan điểm về phát triển của Dudley Seers ít nhất phải thêm ba yếu tố bắt buộc vào khái niệm phát triển đó là, (i) Giảm đói nghèo và suy dinh dƣỡng; (ii) Giảm bất bình đẳng thu nhập; (iii) Cải thiện điều kiện việc làm (Dudley Seers, 1969). Theo Raanan Weitz (1995): “Phát triển được coi là một quá trình phát triển liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và giúp phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội” (Dẫn theo Giáo trình Quy hoạch phát triển nông thôn, 2004).
Phát triển trong sản xuất là quá trình không ngừng biến đổi những yếu tố tự nhiên để tạo ra những của cải, vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu của con ngƣời. 13 Sản xuất đƣợc nhìn nhận ở hai mục đích: (1) Sản xuất cho tiêu dùng là quá trình sản xuất tự cung, tự cấp, quá trình này thể hiện trình độ sản xuất còn thấp của các chủ thể sản xuất nhằm tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con ngƣời; (2) sản xuất cho thị trƣờng là phát triển theo kiểu sản xuất hàng hóa, hàng hóa đƣợc trao đổi để đáp ứng cho thị trƣờng nên số lƣợng sản phẩm tạo ra thƣờng sẽ nhiều và quy mô lớn, sản xuất tập trung, có chuyên môn cao. Xét về mặt sản xuất ra của cải thì phát triển là tăng nhiều sản phẩm, phong phú hơn về chủng loại và chất lƣợng, phù hợp hơn về cơ cấu và phân bố của cải. Phát triển bên cạnh tăng thu nhập bình quân đầu ngƣời còn bao gồm các yếu tố khác nhƣ phúc lợi, giáo dục, y tế, môi trƣờng.
Phát triển đóng vai trò quan trọng, tùy theo chúng ta xem xét phát triển trong vấn đề nào sẽ có những tiêu chí khác nhau nhƣng nhìn chung lại phát triển đƣợc hiểu là thông qua quá trình vận động, phát triển làm cho các chỉ tiêu phản ánh kết quả gia tăng và tiến bộ của một vấn đề nào đó trong một giai đoạn, thời kì nhất định. Phát triển kinh tế gắn với PT CAQCM là một khía cạnh của phát triển của cải vật chất. Nhƣ vậy, có thể khái quát những quan điểm chủ yếu về phát triển nói chung và CAQCM nói riêng nhƣ sau: - Sự gia tăng về số lƣợng và thay đổi về chất lƣợng (chất lƣợng CAQCM đƣợc thể hiện ở mẫu mã đẹp nhƣ dáng quả phải tròn đều, cân đối không méo vẹo, kích thƣớc vừa phải không quá to cũng không quá nhỏ, da phải có màu đặc trƣng… và phải đƣợc kiểm định dƣ lƣợng thuốc bảo vệ thực vật); - Tăng trƣởng về quy mô và hoàn thiện cơ cấu tổ chức (hình thành và phát triển các hợp tác xã về CAQCM sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất và tiêu thụ CAQCM). Khái niệm về phát triển bền vững Bàn về vấn đề phát triển bền vững, Nguyễn Chí Thành & các cộng sự (1996) đã nói đến mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với môi trƣờng, họ tin rằng: Sự tồn tại của con ngƣời luôn gắn liền với các nhu cầu của con ngƣời, muốn thỏa mãn những nhu cầu của bản thân mỗi cá nhân hay một dân tộc thì tất yếu phải trải qua quá trình phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển ấy lại xảy ra những mâu thuẫn. Chẳng hạn con ngƣời vừa cần có củi để đun nấu và sƣởi ấm lại vừa rất cần có rừng để bảo vệ đất khỏi xói mòn, bảo vệ nguồn nƣớc ngầm và phòng, chống nƣớc mặn xâm nhập vào đồng ruộng. (Nguyễn Chí Thành, Lê Thanh Hà & Phạm Tiến Dũng, 1996) Do xảy ra những vấn đề mâu thuẫn trong quá trình phát triển nên hiện nay phát triển kinh tế không chỉ dừng lại với những nhận định nghiên cứu về kinh tế nhƣ các nhà kinh tế học cổ điển trƣớc kia. Các vấn đề về tự nhiên và xã hội liên tục thay đổi qua các năm nhƣ: sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự tăng dân số, ô nhiễm môi trƣờng, chất lƣợng đất suy giảm… đã trở thành những trở ngại ảnh hƣởng mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều nƣớc thậm chí nghiêm trọng hơn là đe dọa đến sự tồn tại của con ngƣời trong tƣơng lai.
Thật ra, hai nhà tƣ tƣởng đã cảnh báo, C. Ăngghen (1995) cho rằng: “Chúng ta không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta với giới tự nhiên. Bởi vì, cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, thì mỗi lần giới tự nhiên lại trả thù chúng ta” (C. Chính vì những phát sinh trong bối cảnh thời đại mới nên vào những năm 70 của thế kỉ XX đã có những cảnh báo về những vấn đề tiêu cực trong quá trình tăng trƣởng kinh tế.
Tại Hội nghị Liên Hợp quốc (1972) trong Tuyên ngôn lần thứ nhất về môi trƣờng tại Stockholm (Thụy Điển) mối quan hệ về phát triển kinh tế - xã hội cùng với môi trƣờng đã đƣợc đề cập với cảnh báo về các hệ quả tiêu cực về môi trƣờng do hành động của con ngƣời gây ra trong quá trình phát triển: “Thận trọng khôn ngoan hơn đối với những hậu quả về môi trường do những hành động của 15 chúng ta gây ra. Nếu làm ngơ hay lãnh đạm, chúng ta có thể gây thiệt hại to lớn và không thể đảo ngược đối với môi trường Trái Đất là nơi cuộc sống và phúc lợi của chúng ta lệ thuộc vào. Ngược lại, nếu chúng ta có đầy đủ kiến thức hơn và hành động khôn ngoan hơn, chúng ta có thể giành được cho chính bản thân chúng ta và con cháu chúng ta một cuộc sống tốt đẹp hơn trong một môi trường đáp ứng được nhiều hơn mọi nhu cầu và hy vọng của con người” (Tuyên bố Stockholm về môi trƣờng con ngƣời, Hành trình vì sự phát triển bền vững 1972-1992-2002, 2002). Bên cạnh đó, thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lƣợc bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN).
Mặc dù đã có nhiều quan niệm khác nhau về “bền vững” trong những thập kỉ trƣớc nhƣng đến báo cáo của Brundtland (1987) đƣa ra khái niệm phát triển bền vững thì đƣợc thừa nhận rộng rãi nhất và khái niệm này đƣợc xem xét ở cấp độ quốc tế: "Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng tới khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng nhu cầu riêng của họ. Nó bao gồm hai nội hàm: - Khái niệm về “nhu cầu” nói riêng đối với nhu cầu thiết yếu của người nghèo trên thế giới, điều mà cần được ưu tiên trước; - Quan điểm về sự giới hạn được hình thành bởi trạng thái công nghệ và tổ chức xã hội trên cơ sở khả năng chịu đựng của môi trường đến đáp ứng được những nhu cầu hiện tại và tương lai” (Ủy ban Môi trƣờng và Phát triển Thế giới, 1987). Báo cáo này chú ý đến mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội và môi trƣờng của sự bền vững. Kể từ hội nghị thƣợng đỉnh về địa cầu ở Rio de Jareiro, Braxin năm 1992, cộng đồng quốc tế đã tán thành quan niệm về phát triển bền vững đƣợc nêu trong 16 báo cáo của Brundtland - một cam kết tái khẳng định tại Hội nghị Thƣợng đỉnh toàn cầu về Phát triển bền vững.
Trong quá trình khai thác sử dụng tài nguyên phục vụ cho nhu cầu tăng trƣởng kinh tế cần phải chú ý tránh để cho thế hệ mai sau phải gánh chịu tình trạng ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên và đói nghèo. Điều then chốt đối với phát triển bền vững không phải là sản xuất ít đi mà phải sản xuất khác đi, sử dụng hợp lý và tái tạo nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trƣờng. Chƣơng trình môi trƣờng của Liên hợp quốc (UNEP) đã đề xuất 5 nội dung của phát triển bền vững gồm: (i) Tập trung phát triển ở các vùng nghèo đói, nhất là vùng rất nghèo mà ở đó con ngƣời không có lựa chọn nào khác ngoài làm giảm cấp nguồn lực và môi trƣờng; (ii) Tạo ra sự phát triển cao về tính tự lập của cộng đồng trong điều kiện có hạn về nguồn lực, nhất là tài nguyên thiên nhiên; (iii) Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực dựa trên các kỹ thuật và công nghệ thích hợp, kết hợp với khai thác tối đa kỹ thuật truyền thống; (iv) Thực hiện các chiến lƣợc phát triển nhằm đảm bảo tự lực về lƣơng thực, cung cấp nƣớc sạch và nhà ở, giữ gìn sức khoẻ, chống suy dinh dƣỡng thông qua các công nghệ thích hợp; (v) Xây dựng và thực hiện các chiến lƣợc có ngƣời dân tham gia (Phạm Vân Đình & Đỗ Kim Chung, 1997). Trong giải quyết vấn đề đói nghèo – một vấn đề có tính toàn cầu – các nhà hoạch định chính sách và quản lý kinh tế đƣợc khuyến cáo rằng: “Nếu không có một môi trường bền vững thì chẳng bao giờ loài người có thể chấm dứt đói nghèo” (UNESCO-IHP, 2012).