CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lý luận về hộ, kinh tế hộ 1. Một số khái niệm về hộ Hộ nông dân đã có và tồn tại từ rất lâu, nó gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và trải qua nhiều hình thức khác nhau. Nó là một trong những đối tượng được các nhà khoa học, các tổ chức trên các lĩnh vực khác nhau quan tâm.
Đứng ở mỗi góc độ khác nhau, họ đưa ra những quan điểm khác nhau về hộ. - Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế người ta đã định nghĩa về hộ như sau: "Hộ là tất cả những người sống chung một mái nhà, nhóm người đó bao gồm cả những người cùng chung một huyết tộc và những người làm công". - Trên phương diện thống kê, Liên Hợp Quốc cho rằng: "Hộ là những người cùng sống chung một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ" - Theo Raul Hunnena giáo sư đại học Tổng hợp Lisbon thì: "Hộ là những người cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân và cộng đồng" - Theo giáo sư F.Kellis -1988: " Hộ nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ không cao”. Khái niệm về phát triển, phát triển nông thôn và phát triển bền vững * Khái niệm về phát triển Trong thuật ngữ khoa học “phát triển” được biểu thị như tiến trình đưa xã hội lên một trình độ cao hơn cả về mặt vật chất lẫn tinh thần.
Quá trình phát triển của xã hội bao gồm cả phát triển kinh tế văn hóa xã hội và chính trị. Như vậy có thể định nghĩa về phát triển “Phát triển là một quá trình thay đổi làm tăng cường mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội” * Phát triển nông thôn Định nghĩa phát triển nông thôn: “Phát triển nông thôn là quá trình làm thay đổi có chủ ý về mặt xã hội, kinh tế văn hóa và môi trường. Nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân địa phương”. n 5 Định nghĩa này cần chú ý những điểm sau: - Phát triển nông thôn không phải là công việc làm trong một thời gian ngắn.
Nó cần phải được theo đuổi trong một thời gian dài và có chú ý. - Phát triển nông thôn là sự thay đổi có chủ ý nhằm làm cho mọi việc tốt hơn. - Các cụm từ: Kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường chỉ ra phạm vi của chủ đề phát triển và cần nhìn nhận một cách toàn diện. - Quá trình phát triển bền vững, sự phát triển của ngày hôm nay không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của ngày mai.
- Nâng cao đời sống của người dân địa phương: Một số chương trình phát triển của “địa phương” trước đây hoặc khuyến khích do nhu cầu quốc gia hơn là nhu cầu của bản than người địa phương. Nhu cầu quốc gia tất nhiên có thể đáp ứng thông qua phát triển nông thôn và bất cứ thành công nào nhu cầu địa phương cũng sẽ đóng góp cho sự phồn thịnh quốc gia. * Phát triển bền vững Hội nghị thượng đỉnh về trái đất năm 1992 đưa ra định nghĩa về phát triển bền vững “Phát triển nhằm thỏa mẵn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu tương lai…” Trong những năm qua, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu nhất định, đời sống của nhân dân nói chung được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng lên qua từng năm, số hộ nghèo giảm dần, hộ khá và giàu tăng lên, giảm bất bình đẳng xã hội, cơ sở hạ tầng nâng lên đáng kể, công trình giao thông được tu bổ đầu tư lớn, giúp việc đi lại, kinh doanh, lưu thông hàng hóa của người dân được dễ hơn. Giáo dục y tế cũng được nâng cấp.
Xã hội đang ngày càng văn minh, dân chủ, công bằng xã hội, quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh ở nông thôn. Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém và hạn chế. Nền kinh tế nhìn chung vẫn mạng tính chất thuần nông, cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp - tiểu thủ công nhiệp và dịch vụ năng suất thấp, khoa học công nghệ còn lạc hậu, đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn nhất là miền núi vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước vấn đề đặt ra là xóa bỏ sự lạc hậu.
Nâng cao đời sống, nâng cao trình độ dân trí nhằm phát triển bền vững và toàn diện trong kinh tế - xã hội “Phát triển nhanh hiệu quả và bền vững. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” gắn sự phát triển kinh tế với việc giữ vững ổn định chính trị xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng. n 6 Chủ trương của Đảng nhà nước đề ra đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với lực lượng sản xuất. - Nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất vật chất chủ yếu và quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Thực tế đã chứng minh điều này, ngay từ những buổi sơ khai của loài người nông nghiệp đã là ngành chủ yếu và quan trọng phục vụ cho cuộc sống con người nói chung và là cơ sở cho các ngành nghề khác phát triển. Hầu hết các nước dựa vào sản xuất nông nghiệp để tạo ra một lượng lương thực thực phẩm cho dân tộc mình, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển. Nông nghiệp thường gắn liền với những vùng quê đặc trưng cho vùng nông thôn. Sản xuất nông nghiệp bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản.
- Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, là khu vực chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Hoạt động công nghiệp bao gồm: khai thác, chế biến và sửa chữa. Công nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng, nó là thước đo cho sự phát triển. Bởi một nước phát triển bao giờ cũng gắn liền với nên công nghiệp phát triển, còn nước kém phát triển thường gắn liền với nền công nghiệp kém phát triển lạc hậu.
Sự phát triển công nghiệp găn liền với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất cùng với việc mở rộng thị trường tiêu thụ, mức độ chuyên môn hóa và tập trung cao. Đối với vùng nông thôn thì công nghiệp nông thôn luôn có vai trò thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn cùng với nông nghiệp thì công nghiệp nông thôn góp phần không nhỏ vào sự phát triển toàn diện của nông thôn và rút ngắn khoảng cách giữa các vùng. - Tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn bao gồm các ngành sử dụng nguyên liệu như: tre, nứa, lá,…, ngành thủ công mỹ nghệ, các ngành nghề truyền thốn, tiểu thủ công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông thôn và giải quyết lao động dư thừa ở nông hộ. - Dịch vụ nông thôn bao gồm: dịch vụ tài chính, thương mại, kỹ thuật.
Dịch vụ phát triển mạnh cùng với sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp. - Phát triển kinh tế - xã hội phải đầu tư mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ. Cơ sở hạ tầng là nền tảng cho sự phát triển, nó bao gồm như: hệ thống thủy lợi, thông tin liên lạc, điện, trạm xá, trường học,…, cơ sở hạ tầng phát triển một cách động bộ thống nhất phụ thuộc vào điều kiện của từng địa phương. n 7 Khoa học công nghệ là yếu tố hàng đầu thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Khoa học công nghệ tập trung theo hướng nghiên cứu các loại giống mới và công nghệ mới áp dụng vào sản xuất để tăng năng suất trong lao động. Từng bước đưa công nghệ sinh học vào sản xuất, hạn chế các chất độc hại để đảm bảo không bị ô nhiễm môi trường và tạo ra sản phẩm an toàn cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Ngoài ra còn chú trọng vào công tác bảo quản và chế biến nông sản để nâng cao giá trị của sản phẩm. - Phát triển kinh tế có tác động mạnh đến nhiều mặt của xã hội cả chiều thuận và chiều nghịch.
Do vậy để phát triển bền vững cần phát triển toàn diện kinh tế và phát triển toàn diện xã hội. Phát triển xã hội là tập trung vào phát triển gáo dục - đào tạo, y tế văn hóa, thể dục thể thao, an ninh chính trị, góp phần nâng cao trình độ dân trí tạo ra môi trường an toàn tiến bộ công bằng xã hội. Vậy: Muốn phát triển bền vững là phát triển kinh tế - xã hội song song đồng thời phải toàn diện. Tức là phát triển kinh tế phải gắn liền với phát triển của xã hội, hai lĩnh vực này luôn tác động qua lại với nhau luôn tồn tại song song mà chúng ta không thể coi nhẹ mặt nào hơn.3 Kinh tế hộ nông dân 1.
Khái niệm “Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội. Trong đó các nguồn lực sản xuất như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh là tùy thuộc vào chủ hộ. Được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển”. Kinh tế hộ và kinh tế gia đình là hai phạm trù nhưng có quan hệ với nhau.
Nếu như kinh tế gia đình được đặt trong mối quan hệ với kinh tế tập thể thì kinh tế hộ được coi là các hoạt động sản xuất kinh doanh của một đơn vị kinh tế độc lập. Nếu gia đình được xem trong mối quan hệ xã hội thì hộ được xem là những đơn vị kinh tế trong nền kinh tế. Tuy nhiên trên thực tế ở nông thôn nước ta hộ đều tồn tại phổ biến dưới dạng hộ gia đình. Tức là hộ vừa có chung cơ sở huyết thống vừa có chung cơ sở kinh tế 1.