phần mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cầu thành 3 chương. Chương Ï: vai trò của tín dụng ngân hàng đối với cây điều trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Chương 2: thực trạng tín dụng ngân hàng đối với cây điều trên địa bàn tỉnh Bình Phước trong thời gian qua. Chương 3: một số giải pháp nhằm phát triển và nâng cao tín dụng ngân hàng đối với cây điều tại Bình Phước.
CHUONG 1: VAI TRO CUA TIN DUNG NGAN HANG DOI VOI CAY DIEU TREN DJA BAN TINH BINH PHUOC 1.1 VI TRI CAY DIEU TREN DIA BAN TINH BINH PHUOC 1.1 Đặc điểm kinh tế của tỉnh Bình Phước. * Những tiền đề thuận loi dé phát triển kinh tế của Bình Phước. Bình Phước được tái lập tỉnh từ năm 1997 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Sông Bé, đến nay đơn vị hành chính gồm có 7.huyện và 01 thị xã, với 99 xã, phường. và thị trần.
Bình Phước là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có tiềm năng kinh tế mạnh, có tốc độ phát triển kinh tế tương đối cao như (TP. Bình Dương, Dong Nai, Vũng Tàu, Long An, Tây Ninh). Bình Phước có trục giao thông chính là QL 13, QL 14 đi hết bề ngang và xuyên suốt chiều dài của tỉnh, đây là một phần của mạnh lưới giao thông liên vùng quan trọng của quốc gia. Từ Bình Phước có thể đi lại, vận chuyển hàng hóa đến các vùng kinh tế trong cả nước khá thuận lợi, là điều kiện cho phép đây nhanh quá trình mở cửa và hòa nhập với sự phát triển kinh tế bên ngoài, nối liền Tp.
Hồ Chí Minh, với vùng Đông Bắc Campuchia, Tây Nguyên giàu tiềm năng, là điều kiện thuận lợi giao ' lưu thương mại, phát triển kinh tế — xã hội trong thời gian tới. Là một tỉnh khá giàu về tài nguyên đất đai, có gần 61 ,2% đất có chất lượng cao, trong đó có trên 415 ngàn ha là đất đỏ Bazan chiếm 60,6%, đất kém chất lượng chỉ có 1,0% tổng điện tích tự nhiên. Đây là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với nhiều ngành kinh tế nhất là đối với ngành nông-lâm nghiệp, cho phép phát triển tốt các loại cây công nghiệp nhiệt đới dài ngày như điều, cao su.Kết hợp chế biến sẽ tạo ra sản phẩm có giá trị cao. Bình Phước nam trong ving nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rd rệt là mùa mưa và mùa khô, có lượng mưa trung bình cao nhât cả nước, không chịu ảnh hưởng của những cơn bảo nhiệt đới.
Bình Phước có diện tích tự nhiên 687.462 ha, chủ yếu là đất đỏ Bazan màu mỡ, diện tích đất nông nghiệp trên 320.000 ha, chiếm 46,5% diện tích; rừng và đất rừng là 336.770 ha, chiếm 48,99% diện tích. Đất đai, khí hậu của Bình Phước rất thuận lợi cho việc phát triển các loại cây _ công nghiệp dài ngày mà đặc biệt là cây điều, cao su. Dân số Bình Phước khoản 850.000 người, trong đó chiếm khoản 20% là đồng bào dân tộc ít người, Bình Phước có nguồn lao động đổi dào với hơn 350.000 người trong độ tuổi từ 14 đến 40; chiếm trên 40% tổng số lao động hiện 0. Những nguồn lực trên phần lớn dừng lại ở đạng tiềm năng, cần có kế hoạch và giải pháp khai thác tôi ưu trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Phước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Một trong những giải pháp quan trọng để khai thác các tiềm năng trên là mở rộng tín đụng ngân hàng đối với việc phát triển cây điều trên địa bàn tỉnh Bình Phước. * Những khó khăn ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của tỉnh. Là một tỉnh nghèo ở miền núi, điểm xuất phát để phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.còn ở mức thấp, tiềm năng nông nghiệp vẫn chưa được khai thác hết, thành phần kinh tế chủ yếu vẫn là kinh tế hộ cá thể mang nặng tính tự phát, thiếu định hướng, chiến lược trong phát triển. Giá cả một số nông sản chủ lực của tỉnh thì không ổn định.
Công nghiệp tuy đã tăng trưởng nhanh nhưng chưa phát triển về chiều sâu, chưa có chuyển biến lớn trong cơ cầu kinh tế; thương mại, dịch vụ chưa có sự chuyên biến đáng kẻ, thu ngân sách hàng năm còn thấp, thất thu thuế ngoài khu vực quốc doanh chưa được khắc phục, ngân sách còn bội chi lớn. Lao động ở vùng sâu, vùng xa có trình độ thấp là trở ngại đáng kế đối với tiến trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Tóm lại: Nền kinh tế xã hội của Bình Phước là kinh tế nông nghiệp gắn liền với vùng nông thôn rộng lớn với các tiềm năng khá đồi dào nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Đây là vùng đất đòi hỏi có sự đầu tư lớn, mới có thể khai thác có hiệu quả các tiềm năng đa dạng và phong phú, phát triển nền kinh tế xã hội, từng bước đô thị hóa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.2 Tình hình sản xuất điều của Việt Nam và các nước trên thế giới.1 Khái quát tình hình ngành điều thế giới.
Cây điều sinh trưởng và phát triển tốt ở những quốc gia thuộc khu vực cận xích đạo, nơi có nhiệt độ và độ ẩm cao. Các quốc gia trồng điều trên thế giới, gồm Việt Nam, Ấn độ, Brazin, các nước châu Phi như Bờ Biển Ngà, Tanzania, Guinea Bissau, Benin, Nigeria, Mozambique, Senegal, Kenya. Trồng, chế biến và buôn bán (hạt và nhân điều) trên thế giới được tổ chức nông lương của Liên hợp quốc (FAO) ghi nhân từ năm 1900; song khối lượng và giá trị buôn bán các sản phẩm từ điều có năm 1962 (sau 62 năm) với số lượng hạt 330.000 tấn và giá trị xuất khẩu 46,2 triệu USD. Bốn mươi sáu năm sau (2008) diện tích điều thu hoạch đã là 3,17 triệu ha, sản lượng hạt điều 1,52 triệu tấn và tạo ra giá trị hàng hóa trên 2 tỷ USD.
Các nước dẫn đầu về sản xuất và chế biến điều là Việt Nam, Án Độ, Brazin, Nigeria. | Việt Nam và Ấn Độ là những nước có sản lượng điều lớn nhất thế giới, năm 2008 Việt Nam dẫn đầu thế giới về xuất khẩu nhân điều, với sản lượng xuất khẩu lên tới hơn 167.000 tấn điều nhân (trơng đương gần 650.000 tấn điều thô) với kim ngạch đạt 920 triệu USD. | Như vậy, ngành điều thế giới trong hơn 100 năm qua liên tục phát triển cả trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu; song thị trường tăng trưởng mạnh từ năm 1975 đến nay do nhu cầu tiêu thụ hạt điều tăng và hiệu quả từ trồng, chế biến và tiêu thụ đã mang lại lợi ích đáng kế cho nông dân, thương lái, doanh nghiệp tham gia vào quá trình phát triển điều. Đặc biệt là sự hỗ trợ tích cực của khoa học công nghệ đã tạo ra các giống điều thích nghỉ với điều kiện sinh thái, đạt năng suất và chất lượng cao cùng với quy trình kỷ thuật sản xuất, chế biến dần được hoàn thiện hơn.2 Khái quát tình hình ngành điều Việt Nam.
Cây điều bắt đầu trồng ở Việt Nam từ thế kỷ XVI, nhưng ngành điều của nước ta mới được hình thành từ năm 1981, đây là sự khác biệt lớn khi đánh giá ngành điều so với cây cao su, chè, cà phê đã có cách đây hơn 100 năm. Tuy nhiên, ngành điều Việt Nam chỉ phát triển mạnh từ những năm 1990 đến nay, tốc độ tăng trưởng nhanh về số lượng, từ hơn 20 doanh nghiệp chế biến năm 1990 đến nay đã tăng lên hơn 600 doanh nghiệp và cơ sở chế biến với tổng công suất đạt 650.000 tấn nguyên liệu/năm. Năm 1990 suất khâu 130 triệu USD, nam 2005 tong kim ngach xuất khẩu đạt 502 triệu USD và Việt Nam đã vươn lên trở thành nước chế biến và xuất khẩu nhân điều lớn thứ 2 thế giới và năm 2008 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 920 triệu USD đứng đầu thế giới về giá trị xuất khẩu. Hiện nay, vùng nguyên liệu đã đạt trên 421.000 ha, trong đó diện tích cho thu hoạch khoản 320.000 ha, với sản lượng hàng năm trên 450.000 tấn nguyên liệu, đã có cuộc cách mạng về giống cao sản, việc chuyển giao tiễn bộ kỷ thuật cho người trồng điều được chú trọng, trong những năm gần đây, do Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam, nên chất lượng sản phẩm của nhân điều Việt Nam tốt hơn so với sản phân cùng loại của Án Độ và Brazin.
Hạt điều Việt Nam hiện có mặt trên 40 nước và vùng lãnh thổ, các thị trường xuất khẩu chính của điều Việt Nam là Mỹ (32%), EU (20%), Trung Quốc (17%) Hà Lan, Australia, Anh, Canada.đang được tiếp tục mở rộng. Nhiều nhà nhập khẩu của EU, Mỹ đã đánh giá chất lượng nhân điều của Việt Nam là thơm, ngon hàng đầu thế giới. Đây là bước phát triển đột biến của ngành sản xuất điều Việt Nam, những năm gần đây kim ngạch xuất khâu nhân điều đứng thứ tư sau gạo, cao su, cà phê và cũng là mặt hàng có lợi thế cạnh tranh cao trên thế giới. Ngành sản xuất điều đã tạo việc làm và thu nhập tương đối ổn định cho 500.000 lao động, trong đó 300.000 lao động trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, xuất khẩu và 200.000 hộ nông dân trồng điều.3 Vị trí cây điều trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
Bình Phước là một tỉnh nông nghiệp với các loại cây trồng chủ lực như cao su, điều, cà phê, tiêu.Trong đó cây điều là một loại cây chiến lược trong tiến trình phát triển kinh tế của tỉnh, đã được tỉnh Bình Phước phê duyệt phát triển thành loại cây trồng chủ lực của địa phương quy hoạch đến năm 2020. trong đó: Quan điểm quy hoạch của tỉnh: xác định vùng sản xuất điều tập trung nhằm đảm bảo cung cấp đủ và ổn định nguồn nguyên liệu có chất lượng cao, cung cấp cho các nhà máy chế biến hạt điều đóng trên địa bàn của tỉnh, nhằm tạo tiền đề cho các dự án đầu tư về gióng cải tạo vườn điều, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để chuyển giao khoa học kỷ thuật, vốn sản xuất và liên kết tiêu thụ sản phẩm cho người dân trồng điều. Phát triển cây điều theo hướng công nghiệp hiện đại, với bước đi phù hợp, đa dạng hóa các sản phẩm chế biến, đồng thời nâng cao _ chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhằm đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị ` trường xuất khẩu nhân điều và tiêu thụ trong nước. Đó là những tiền đè thuận lợi để phái triển cây điều trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
Vi tri cay điều trên địa bàn tỉnh Bình Phước thời gian qua: Cây điều là cây chiến lược đã được tỉnh lựa chọn để phát triển kinh tế địa phương.