phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy tính tích cực nhận thức cho SV trƣờng Cao đẳng trong dạy học vật lí với sự hỗ trợ của bản đồ tƣ duy Chƣơng 2: Phát huy tính tích cực nhận thức cho sinh viên trƣờng Cao đẳng Sơn La qua dạy phần “Cơ học” Vật lý đại cƣơng với sự hỗ trợ của bản đồ tƣ duy. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 6 NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO SINH VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BẢN ĐỒ TƢ DUY 1. Hoạt động nhận thức và tính tích cực hoạt động nhận thức của SV 1.
Hoạt động nhận thức của Sinh viên Theo quan điểm triết học Mác-Lênin dẫn theo20 thì nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con ngƣời trên cơ sở thực tiễn.Lênin đã chỉ rõ quy luật chung nhất của hoạt động nhận thức là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng và từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” dẫn theo 29, tr. Hoạt động nhận thức đi từ chƣa biết đến biết, từ thuộc tính bề ngoài sau đó đến thuộc tính bên trong và cuối cùng từ đó trở về thực tiễn, thông qua các quá trình tâm lý nhƣ cảm giác, tri giác, trí nhớ, tƣởng tƣợng, tƣ duy ngôn ngữ. Hoạt động học tập của Sinh viên có cấu trúc giống nhƣ hoạt động lao động sản xuất nói chung, bao gồm các thành tố có quan hệ và tác động đến nhau: Một bên là động cơ, mục đích, điều kiện và bên kia là hoạt động, hành động và thao tác 13. Động cơ Hoạt động Mục đích Hành động Phƣơng tiện, ĐK Thao tác Hình 1.
Sơ đồ cấu trúc hoạt động học tập. 7 Phân tích cấu trúc hoạt động học tập trên ta thấy: Động cơ nào quy định sự hình thành và diễn biến của hoạt động ấy; muốn thỏa mãn đƣợc động cơ ấy, phải thực hiện lần lƣợt những hành động nào để đạt đƣợc mục đích cụ thể nào và cuối cùng mỗi hành động đƣợc thực hiện bằng nhiều thao tác sắp xếp theo một trình tự xác định, ứng với mỗi thao tác phải sử dụng những phƣơng tiện, công cụ thích hợp. Hoạt động nào cũng có đối tƣợng. Thông thƣờng, các hoạt động khác có đối tƣợng là một khách thể, hoạt động hƣớng vào làm biến đổi khách thể.
Trong khi đó, hoạt động học lại làm cho chính chủ thể (ngƣời học) biến đổi và phát triển. Đối tƣợng của hoạt động học là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần chiếm lĩnh. Nội dung của đối tƣợng này không hề bị thay đổi sau khi bị chiếm lĩnh, nhƣng nhờ có sự chiếm lĩnh này mà các chức năng tâm lý của chủ thể mới đƣợc thay đổi và phát triển. Để tổ chức tốt hoạt động nhận thức cho SV, GV cần phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập nhận thức của SV, tạo điều kiện để cho “HS phải tự khám phá lại để tập làm công việc khám phá đó trong hoạt động thực tiễn sau này” 29, tr.
Trong dạy học hiện nay GV đa số chỉ thông báo cho SV cái mới mà không tổ chức cho SV khám phá tìm cái mới đó nên hoạt động nhận thức của SV diễn ra chƣa thực sự đạt kết quả cao. Vật lí học là một môn khoa học thực nghiệm, phƣơng pháp nghiên cứu cũng nhƣ học tập đều dựa trên cơ sở quan sát, thí nghiệm để phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trìu tƣợng hóa thành các khái niệm, định luật, thuyết vật lí…rồi từ lý thuyết vận dụng nghiên cứu các sự vật, hiện tƣợng ở phạm vi rộng hơn. Do vậy, để tạo điều kiện cho SV tự khám phá kiến thức, GV cần tổ chức tốt quá trình quan sát và tƣ duy cho SV. Trong dạy học vật lí có thể có nhiều loại quan sát nhƣ: Quan sát thí nghiệm, quan sát hiện tƣợng tự nhiên, quan sát một bài thực nghiệm… Để quan sát đƣợc sâu sắc cần phải hƣớng dẫn SV xác định mục đích, nội dung, trình tự quan sát, ghi lại dấu hiệu, phân tích và xử lí số liệu, kĩ năng đặt 8 câu hỏi với một dấu hiệu bất kỳ…Qua nhiều hoạt động và nhiều nội dung mới rèn đƣợc óc quan sát cho SV, giúp SV nhận thức tích cực hơn và tạo điều kiện cho tƣ duy SV phát triển.
Tính tích cực hoạt động nhận thức của Sinh viên 1. Tính tích cực (TTC) Theo từ điển Tiếng Việt “Tích cực” có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, tác dụng thúc đẩy sự phát triển. Tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hƣớng phát triển. Hăng hái, tỏ ra nhiệt tình đối với nhiệm vụ, với công việc” 22.
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con ngƣời. Con ngƣời sản xuất ra của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của xã hội, sáng tạo ra nền văn hoá mỗi thời đại 19. TTC của con ngƣời biểu hiện trong các hoạt động. Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học.
TTC trong hoạt động học tập là TTC nhận thức, đặc trƣng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Lĩnh hội những tri thức của loài ngƣời đồng thời tìm kiếm “khám phá” ra những hiểu biết mới cho bản thân. Qua đó sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm đƣợc qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình 19. Kharlamov cho rằng “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể, có nghĩa là của ngƣời hành động.
Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS đặc trƣng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức” dẫn theo 25. Giáo dục có thể tạo điều kiện tốt cho việc phát huy tính tích cực của học sinh, là điều kiện cần cho sự phát triển tƣ duy độc lập và sáng tạo của ngƣời học, tuy nhiên nếu học sinh không đƣợc phát huy tính tích cực của mình nhất là với phƣơng pháp dạy học truyền thống của giáo viên thì có thể làm cho ngƣời học trở nên thụ động, thiếu tự tin, và khó mà phát huy đƣợc khả năng sáng tạo của Sinh viên. 9 TTC cũng có mối quan hệ mật thiết với tính tự lực, với xúc cảm và ý chí… Tóm lại, TTC nói chung là một phẩm chất rất quan trọng của con ngƣời, đƣợc hình thành từ rất nhiều lĩnh vực, nhiều nhân tố, có quan hệ với rất nhiều phẩm chất khác của nhân cách và với môi trƣờng, điều kiện mà chủ thể hoạt động và tồn tại. Tính tích cực nhận thức (TTCNT) Theo quan điểm triết học, tính tích cực nhận thức thể hiện thái độ cải tạo của chủ thể nhận thức đối với đối tƣợng nhận thức, nghĩa là con ngƣời không chỉ hiểu đƣợc các qui luật của tự nhiên, xã hội mà còn nghiên cứu cải tạo chúng phục vụ lợi ích của con ngƣời.
Tính tích cực nhận thức (TTCNT) là tính tích cực xét trong điều kiện, phạm vi của quá trình dạy học, chủ yếu đƣợc áp dụng trong quá trình nhận thức của HS. Theo giáo sƣ Trần Bá Hoành “Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức” 18. TTCNT bao gồm: Sự lựa chọn đối tƣợng nhận thức; đề ra cho mình mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tƣợng nhằm cải tạo nó. Tính tích cực trong hoạt động cải tạo đòi hỏi phải có sự thay đổi trong ý thức và hành động của chủ thể nhận thức, đƣợc thể hiện bằng nhiều dấu hiệu nhƣ sự tập trung chú ý, sự tƣởng tƣợng mạnh mẽ, sự phân tích, tổng hợp sâu sắc… 20.
Có thể phân chia TTCNT làm ba mức độ: Tính tích cực tái hiện: Đó là mức độ thấp của tính tích cực, chủ yếu là dựa vào trí nhớ để tái hiện những điều đã nhận thức đƣợc. Tích cực mô phỏng, bắt chƣớc cũng là một dạng tích cực tái hiện. Đây là hình thức biểu hiện tính tích cực sớm nhất, đơn giản và phổ biến nhất. Điều này điễn ra rất tự nhiên, nhƣng rất cần thiết cho sự phát triển.
Qua mô phỏng, bắt chƣớc, tái hiện mà các em tích lũy đƣợc kiến thức và kinh nghiệm từ các thế hệ trƣớc. 10 Tính tích cực sử dụng: Đây là sự phát triển tính tích cực ở mức độ cao hơn. Qua việc vận dụng các công cụ, các khái niệm, định lý, định luật…vào giải quyết một nhiệm vụ nào đó các em phải phân tích, suy nghĩ tìm tòi để tự lực đƣa ra những phƣơng án khác nhau, nhờ đó mà nhu cầu, hứng thú nhận thức và óc sáng tạo phát triển. Tính tích cực sáng tạo: Đây là mức độ phát triển cao nhất của tính tích cực.
Nó đƣợc đặc trƣng bằng sự khẳng định con đƣờng suy nghĩ riêng của mình, vƣợt ra khỏi khuôn mẫu, máy móc nhằm tạo ra cái mới, cái bất ngờ, có giá trị. Tính tích cực sáng tạo tạo điều kiện cho sự phát triển các khả năng và tiềm năng sáng tạo của cá nhân. Nó hƣớng đến việc ứng dụng những thủ thuật mới để giải quyết vấn đề, tìm tòi những biện pháp khắc phục khó khăn, đƣa những phát minh mới vào cuộc sống. Nó biểu thị khả năng tự mình tìm kiếm những nhiệm vụ mới, những phƣơng pháp giải quyết mới, khả năng sử dụng những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo trong những tình huống, hoàn cảnh mới.
Nhƣ vậy tính tích cực sáng tạo không phải là một nét riêng của tính cách cá nhân, mà là một tập hợp những dấu hiệu đặc trƣng của một con ngƣời. Những biểu hiện của TTC hoạt động nhận thức. Trong học tập, học sinh chỉ có thể chiếm lĩnh đƣợc kiến thức và phát triển đƣợc tƣ duy của mình khi họ tích cực nhận thức. Hoạt động nhận thức là nhiệm vụ xuyên suốt trong quá trình học tập của học sinh.
Thông qua hoạt động nhận thức, HS chiếm lĩnh đƣợc kiến thức và năng lực tƣ duy cũng đồng thời đƣợc phát triển. Để phát hiện xem học sinh có tích cực nhận thức không, ta dựa vào các dấu hiệu sau: + Học sinh có chú ý học tập không? Có hăng hái tham gia vào các hoạt động học tập không?