ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, trên toàn thế giới, bệnh ung thƣ đã vƣợt qua bệnh tim mạch để trở thành căn nguyên gây tử vong hàng đầu với tỷ lệ mắc bệnh cao và độ tuổi mắc bệnh ngày càng giảm[6][9] [70]. Với tốc độ phát triển dân số và sự gia tăng tuổi thọ nhƣ hiện nay thì ƣớc tính đến năm 2050, thế giới sẽ có thêm khoảng 27 triệu trƣờng hợp ung thƣ mới mắc và khoảng 17,5 triệu bệnh nhân tử vong mỗi năm[6] [70]; trong đó phải kể đến ung thƣ phổi (UTP), căn nguyên gây tỷ lệ mắc và tử vong hàng đầu với thể ung thƣ biểu mô tuyến của phổichiếmđến40%cáctrƣờnghợp [12][13]. Những nghiên cứu thực hiện ở các nƣớc có nền y học tiên tiến cho thấy việc áp dụng kỹ thuật sinh học phân tử trong chẩn đoán và điều trị đã mang lại những lợi ích nổi bật cho bệnh nhân ung thƣ. Các nhà khoa học có thể đánh giá một cách tổng quát sự tƣơng tác gen, các con đƣờng dẫn truyền tín hiệu nội bào và ảnh hƣởng của các dòng thác tín hiệu trong tế bào đến quá trình tái bản, sao chép và phiên mã, từ đó tác động lên quá trình sinh trƣởng, biệt hóa, di chuyển và chết theo chƣơng trình của tế bào.
Nhƣ vậy, với mỗi một biến đổi gen xảy ra đều có thể làm thay đổi sự cân bằng các hoạt động sống tế bào, biến một tế bào lành trở thành tế bào ác tính hoặc gây chết tế bào. Mặt khác, có những biến đổi gen lại khiến các tế bào trở nên nhạy cảm hoặc đề kháng hơn với những tác nhân ngoại bào nhƣ tác nhân lý, hóa. Trong đó, sự thay đổi tính đáp ứng của tế bào với các các thuốc điều trị ung thƣ là một ví dụ điển hình. Đây là cơ sở khoa học để các nhà khoa học nghiên cứu và ứng dụng các loại thuốc mới tác động trực tiếp lên các thụ thể tế bào nhằm ức chế sự phát triển của tế bào ung thƣ gọi là liệu pháp điều trị ung thƣ trúng đích (targeted cancer therapy).
Ƣu điểm của phƣơng pháp này là liều điều trịthấp, đặc hiệu, ít độc hại và đặc biệt là hiệu quả đƣợc nâng cao một cách rõ rệt, thể trạng ngƣời bệnh đƣợc tăng cƣờng và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân[9][28]. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Việc phân tích tình trạng các gen đóng vai trò chủ chốt trong quá trình phát sinh khối u giúp các bác sĩ lựa chọn pháp đồ điều trị phù hợp nhất để nâng cao hiệu quả điều trị đích cho ngƣời bệnh. Qua nhiều công trình nghiên cứu cũng nhƣ sự kiểm duyệt khắt khe của các Tổ chức quản lý y dƣợc uy tín trên thế giới (FDA-Hoa Kì, EMEA-Liên Minh Châu Âu), liệu pháp điều trị trúng đích (LPĐTTĐ) đã chứng tỏ hiệu quả rất tốt trong việc điều trị cho các bệnh nhân ung thƣ biểu mô tuyến của phổi giai đoạn cuối: kích thƣớc các khối u giảm đáng kể, thời gian sống kéo dài hơn, chất lƣợng cuộc sống đƣợc cải thiện, … Tuy nhiên, mức độ đáp ứng với thuốc điều trị đích ở mỗi bệnh nhân phụ thuộc phần lớn vào tình trạng một số gen, mà quan trọng nhất là gen EGFR. Việc xác định đột biến gen hay sự tƣơng tác protein bị đột biến có ý nghĩa rất lớn giúp bác sĩ lựa chọn đƣợc phác đồ điều trị thích hợp để nâng cao hiệu quả điều trị đích cho bệnh nhân.
Tháng 6/2009, Cục Quản lý Thực phẩm và Dƣợc phẩm Hoa Kỳ (FDA) chính thức đƣa ra khuyến cáo: bệnh nhân trƣớc khi đƣợc chỉ định dùng thuốc ức chế EGFR cần phải đƣợc làm xét nghiệm tình trạng gen[17][78]. Tại Việt Nam, số lƣợng bệnh nhân bệnh ung thƣ ngày càng nhiều, nhu cầu sử dụng LPĐTTĐ ngày càng tăng, trên thị trƣờng đã có một số dƣợc phẩmđiềutrịđíchđangđƣợclƣuhành;tuynhiênbệnh nhân muốn sử dụng LPĐTTĐ cần phải đƣợc làm xét nghiệm đột biến gen. Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tàinghiêncứu“Phát hiện gián tiếp đột biến gen EGFR trong ung thư biểu mô tuyến của phổi bằng kỹ thuật hóa mô miễn dịch”đƣợc thực hiện với các mục tiêu sau: 1. Khảo sát kỹ thuật hóa mô miễn dịch xác định đột biến gen EGFR.
Xác định tỷ lệ đột biến gen EGFR trong ung thư biểu mô tuyến của phổi. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lƣợc về dịch tễ học ung thƣ phổi và các yếu tố nguy cơ 1. Dịch tễ học Thế giới Kể từ năm 1985, UTP đã đứng đầu trong các bệnh lý ung thƣ cả về tỉ lệ mắc và tử vong trên toàn cầu[14][103].
Tính tại thời điểm năm 2012, cả thế giới có khoảng 1,8 triệu ca UTP mới mắc (chiếm 12,9% tổng số ca ung thƣ mới mắc), 1,59 triệu ca tử vong (chiếm 19,4% tổng số ca tử vong do ung thƣ) [3][78][102]. Tại Hoa Kỳ, theo số liệu năm 2016 của American Cancer Society, số ca mắc mới UTP là 224390 ca (chiếm khoảng 13% tổng số ca ung thƣ mới mắc), số ca tử vong do UTP là 158080 ca. Cũng theo đó, tổng số ca tử vong do ung thƣ đại tràng (49190 ca), vú (40890 ca), tiền liệt tuyến (26120 ca) chỉ chiếm xấp xỉ gần 3/4 tổng số ca tử vong của UTP[19][70]. Về mặt phân bố theo giới, trên toàn cầu năm 2012, UTP là bệnh lý ung thƣ hay gặp nhất ở nam, xếp sau đó là ung thƣ tiền liệt tuyến và ung thƣ đại trực tràng, chiếm tỉ lệ xấp xỉ 17% tổng số ca ung thƣ mới mắc ở nam; ở nữ, UTP chỉ đứng hàng thứ ba sau ung thƣ vú và ung thƣ đại trực tràng, chiếm gần 9% tổng số ca ung thƣ mới mắc của giới này[19][21][102].
Trƣớc đây, nhìn chung UTP hay gặp và gây tử vong cho nam giới nhiều hơn hẳn nữ giới trên nhiều quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay khoảng cách đó đã dần bị xóa bỏ, bệnh có tỉ lệ mắc và tử vong gần nhƣ tƣơng đƣơng nhau ở cả 2 giới. Tại Hoa Kỳ, tỉ lệ mắc và tử vong của nam/nữ đã thay đổi rõ rệt: năm 2004 tƣơng ứng là 1,15/1 và 1,34/1 đến năm 2016 ƣớc tính các tỉ lệ này tƣơng ứng chỉ còn 1,11/1 và 1,19/1[3][19][77]. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 UTBMT cùng với UTBM vảy, UTBM tế bào nhỏ và UTBM tế bào lớn là các týp MBH hay gặp nhất của UTP.
UTBMT đến giai đoạn 2006 – 2010 đã chiếm tới hơn 40% các ca UTP, trở thành týp MBH hay gặp nhất của UTP nói chung[13][14][79]. Đến nay, UTBMT đã thay thế UTBM vảy để trở thành týp MBH hay gặp nhất ở nam giới, đồng thời vẫn luôn là týp MBH phổ biến nhất ở nữ giới trong thời gian dài[13][14]. Việt Nam Ở Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y tế, UTP đứng hàng thứ hai về tỉ lệ tử vong của các loại ung thƣ hằng năm ở cả hai giới nam và nữ. Mỗi năm cả nƣớc có hơn 20000 bệnh nhân UTP mới đƣợc phát hiện và có tới 17000 trƣờng hợp tử vong.
Riêng tại Bệnh viện Phổi Trung ƣơng, theo Lê Trung Thọ, tính đến năm 2012, số ngƣời mắc bệnh này đến khám và điều trị đã lên tới 16677 ngƣời[4][6][34]. Theo số liệu ghi nhân ung thƣ tại Hà Nội giai đoạn 2001 – 2004, ƣớc tính hằng năm có 17073 trƣờng hợp mắc mới UTP, trong đó có 12958 nam và 4115 nữ và là ung thƣ đứng đầu ở nam giới[4][47]. Theo Phạm Duy Hiển và cộng sự, nghiên cứu trên 1151 trƣờng hợp UTP tại thành phố Hồ Chí Minh, UTBMT chiếm tỉ lệ rất cao, lên tới 48,54% [8]. Theo Phạm Nguyên Cƣờng (2015), trong tổng số 258 trƣờng hợp UTP có 67,1% là týp UTBMT, týp UTBM vảy chỉ chiếm 11,4%, các týp chiếm tỉ lệ rất nhỏ [5].
Các yếu tố nguy cơ Thuốc lá Thuốc lá là yếu tố nguy cơ quan trọng hàng đầu làm gia tăng UTP, dịch tễ học UTP thay đổi gần nhƣ song song với sự phổ biến của thuốc lá. Không chỉ những ngƣời hút, mà cả những ngƣời hít phải khói thuốc (hút thuốc lá bị động) cũng có nguy cơ cao mắc UTP, đặc biệt là týp UTBMT tại chỗ [13][20]. Thuốc lá chứa hơn 4000 hợp chất hóa học [5], trong đó có nhiều TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 chất đã đƣợc chứng minh có khả năng gây ra UTP nhƣ carbon oxit và nitrosamine. Tại Hoa Kỳ, khoảng 80% - 90% các ca UTP có liên quan đến hút thuốc lá [26][33].
Nguy cơ mắc UTP tăng lên theo thời gian hút và số lƣợng thuốc lá hút mỗi ngày, gấp 9 đến 10 lần với nam giới hút thuốc mức độ trung bình và ít nhất 20 lần với ngƣời nghiện hút thuốc lá [103]. Bằng chứng về xu hƣớng thay đổi trong các týp MBH UTP đƣợc xem xét một cách toàn diện tại báo cáo của Hội ngoại khoa Hoa Kỳ năm 2014. Báo cáo đã đƣa ra 4 kết luận quan trọng liên quan đến sự thay đổi trong mô hình UTP liên quan đến thuốc lá: - Có đủ bằng chứng để kết luận rằng nguy cơ làm phát triển UTBMT của phổi do hút thuốc lá tăng lên từ những năm 1960. - Có đủ bằng chứng để kết luận rằng sự tăng nguy cơ bị UTBMT của phổi ở những ngƣời hút thuốc lá là hậu quả từ sự thay đổi trong cấu trúc và thành phần của thuốc lá từ những năm 1950.
- Chƣa có đầy đủ bằng chứng để kết luận sự thay đổi nào trong cấu trúc của thuốc lá gây tăng nguy cơ bị UTBMT của phổi, nhƣng có một chứng cứ gợi ý đƣợc đƣa ra là các đầu lọc và sự tăng hàm lƣợng nitrosamine trong thuốc lá đóng vai trò gây hậu quả này. - Bằng chứng chỉ ra rằng sự giảm tỉ lệ mắc UTBM vảy theo sau sự giảm tỉ lệ hút thuốc lá. Yếu tố nghề nghiệp Radon là một loại khí gas có sẵn trong tự nhiên, hình thành do sự phân rã của các nguyên tố uranium, thorium và radium trong đất đá. Nồng độ của khí này thay đổi tùy vị trí địa lý, và thƣờng có mức độ tập trung rất cao ở các khu vực hầm mỏ.
Radon không màu, không mùi, không vị, có khả năng phát TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 tia phóng xa và tùy vào mức độ và thời gian tiếp xúc có thể trở thành tác nhân gây UTP. Tại Mỹ, nói chung Radon là nguyên nhân gây UTP đứng thứ hai sau thuốc lá và là nguyên nhân hàng đầu trong nhóm không hút thuốc lá, với khoảng 15000 đến 22000 ca tử vong có liên quan đến Radon[16][81]. Radon có thể hiệp đồng với thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc UTP lên gấp nhiều lần. Amiante là nguyên nhân gây UTP liên quan đến nghề nghiệp đƣợc biết đến rõ nhất và hay găp nhất.
Amiante gồm 2 nhóm chính là Amphibole và Serpentine hay còn gọi là Amiante trắng.