Luận văn pháp luật xử lý vi phạm kế toán - Lê Thị Thủy Dương

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu pháp luật xử lý vi phạm kế toán tại Việt Nam, phân tích quy định về báo cáo tài chính, quản lý sổ kế toán và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Luật học

2018

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách xử lý vi phạm kế toán ở Việt Nam Tổng quan hệ thống pháp luật

Pháp luật xử lý vi phạm kế toán ở Việt Nam là hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh các hành vi sai phạm trong hoạt động kế toán, bao gồm gian lận báo cáo tài chính, lập sổ sách không đúng quy định, hoặc sử dụng hóa đơn bất hợp pháp. Hệ thống này được xây dựng dựa trên Luật Kế toán năm 2015, Nghị định 41/2018/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành. Mục tiêu chính là đảm bảo tính minh bạch, trung thực và nhất quán trong thông tin kế toán – yếu tố then chốt cho sự ổn định của thị trường tài chính và niềm tin của nhà đầu tư. Theo luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thủy Dương (2018), vi phạm kế toán không chỉ gây tổn thất tài sản doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngân sách Nhà nước và trật tự kinh tế quốc gia. Các chế tài xử lý bao gồm xử phạt vi phạm hành chính, trách nhiệm dân sự, và trong trường hợp nghiêm trọng, trách nhiệm hình sự. Việc phân loại vi phạm theo mức độ, chủ thể và hậu quả giúp cơ quan chức năng áp dụng biện pháp xử lý phù hợp, đồng thời răn đe các hành vi tương tự trong tương lai.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của vi phạm kế toán

Vi phạm kế toán là hành vi không tuân thủ quy định pháp luật về kế toán, bao gồm cả hành vi cố ý và vô ý. Đặc điểm nổi bật là tính ẩn giấu cao, thường chỉ bị phát hiện qua kiểm toán hoặc thanh tra. Các hành vi phổ biến gồm: ghi nhận doanh thu không đúng thời điểm, khai man chi phí, hoặc lập báo cáo tài chính sai lệch. Theo Lê Thị Thủy Dương (2018), vi phạm kế toán thường gắn với động cơ trục lợi, như trốn thuế, thao túng giá cổ phiếu hoặc che giấu thua lỗ.

1.2. Các chủ thể liên quan trong xử lý vi phạm kế toán

Chủ thể vi phạm thường là doanh nghiệp, kế toán trưởng, hoặc người đại diện theo pháp luật. Trong khi đó, chủ thể xử lý bao gồm cơ quan thuế, thanh tra tài chính, Tòa án nhân dân, và Kiểm sát nhân dân. Mỗi chủ thể có thẩm quyền riêng: cơ quan thuế xử phạt hành chính, còn tòa án xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định rõ vai trò giúp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kế toán.

II. Thách thức trong pháp luật xử lý vi phạm kế toán hiện nay

Mặc dù hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm kế toán đã được hoàn thiện qua nhiều lần sửa đổi, vẫn tồn tại nhiều khoảng trống pháp lýmâu thuẫn giữa các văn bản. Một trong những thách thức lớn nhất là mức phạt chưa đủ sức răn đe. Nhiều doanh nghiệp coi tiền phạt như “chi phí kinh doanh” thay vì hậu quả pháp lý nghiêm trọng. Theo báo cáo đánh giá chất lượng công bố thông tin năm 2016, hơn 30% doanh nghiệp niêm yết có sai sót trong báo cáo tài chính, nhưng chỉ một phần nhỏ bị xử lý hình sự. Ngoài ra, năng lực chuyên môn của cơ quan thanh tra còn hạn chế, dẫn đến việc bỏ sót vi phạm tinh vi. Việc thiếu cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế, kiểm toán và Ủy ban Chứng khoán cũng làm giảm hiệu quả phát hiện và xử lý. Điều này đặc biệt nguy hiểm trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng, khi nhà đầu tư nước ngoài đòi hỏi minh bạch thông tin tài chính cao hơn.

2.1. Mức phạt chưa tương xứng với hậu quả vi phạm

Nghị định 41/2018/NĐ-CP quy định mức phạt tối đa với vi phạm kế toán là 50 triệu đồng – con số quá nhỏ so với thiệt hại có thể lên đến hàng trăm tỷ đồng. Ví dụ, vụ Công ty Gỗ Trường Thành (TTF) gây thất thoát gần 1.000 tỷ đồng nhưng hình phạt hành chính chỉ vài chục triệu. Điều này cho thấy chế tài xử lý chưa đủ mạnh để ngăn chặn hành vi gian lận.

2.2. Thiếu đồng bộ trong hệ thống văn bản pháp luật

Luật Kế toán, Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý thuế và Bộ luật Hình sự có những quy định chồng chéo về trách nhiệm kế toán. Ví dụ, hành vi sử dụng hóa đơn khống có thể bị xử lý theo Nghị định 125/2020/NĐ-CP hoặc Điều 203 Bộ luật Hình sự, nhưng tiêu chí phân định chưa rõ ràng. Điều này gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong áp dụng pháp luật.

III. Phương pháp xử lý vi phạm kế toán theo quy định pháp luật hiện hành

Pháp luật Việt Nam quy định ba hình thức xử lý chính đối với vi phạm kế toán: xử phạt vi phạm hành chính, trách nhiệm dân sự, và trách nhiệm hình sự. Xử phạt hành chính áp dụng cho các sai phạm nhẹ như lập sổ kế toán không đúng mẫu, lưu trữ chứng từ không đầy đủ. Trách nhiệm dân sự phát sinh khi vi phạm gây thiệt hại cho bên thứ ba – ví dụ, nhà đầu tư mua cổ phiếu dựa trên báo cáo tài chính sai lệch. Trách nhiệm hình sự được áp dụng khi có dấu hiệu gian lận có tổ chức, chiếm đoạt tài sản hoặc trốn thuế quy mô lớn. Quy trình xử lý bắt đầu từ thanh tra, sau đó là lập biên bản, ra quyết định xử phạt hoặc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra. Theo Lê Thị Thủy Dương (2018), việc tuân thủ đúng thủ tục xử lý vi phạm là yếu tố then chốt để đảm bảo tính công bằng và minh bạch.

3.1. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán

Cơ sở pháp lý chính là Nghị định 41/2018/NĐ-CP và Nghị định 125/2020/NĐ-CP. Mức phạt dao động từ 5–50 triệu đồng tùy hành vi. Ví dụ: không lập sổ kế toán bị phạt 10–20 triệu; sử dụng chứng từ không hợp pháp bị phạt 20–30 triệu. Ngoài phạt tiền, doanh nghiệp còn bị buộc khắc phục hậu quả như lập lại báo cáo hoặc nộp bổ sung chứng từ.

3.2. Trách nhiệm hình sự với hành vi gian lận kế toán

Điều 222 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) quy định tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”. Người phạm tội có thể bị phạt tù đến 20 năm nếu gây thiệt hại trên 3 tỷ đồng. Tuy nhiên, số vụ khởi tố hình sự vẫn còn thấp do khó chứng minh yếu tố “cố ý” và “hậu quả nghiêm trọng”.

IV. Ứng dụng thực tiễn Các vụ vi phạm kế toán tiêu biểu tại Việt Nam

Thực tiễn xử lý vi phạm kế toán tại Việt Nam cho thấy nhiều vụ việc nghiêm trọng nhưng chế tài áp dụng còn hạn chế. Năm 2016, Công ty Cổ phần Gỗ Trường Thành (TTF) bị phát hiện gian lận hàng tồn kho trị giá gần 1.000 tỷ đồng. Dù gây chấn động thị trường, vụ việc chỉ dừng ở mức xử phạt hành chính và kỷ luật nội bộ. Tương tự, Công ty Ntaco (ATA) cũng bị phát hiện thất thoát 400 tỷ đồng hàng tồn kho, nhưng không có cá nhân nào bị truy cứu hình sự. Gần đây hơn, Công ty Dầu thực vật Sài Gòn (SGO) phải đính chính báo cáo tài chính sau khi kiểm toán độc lập phát hiện sai sót trọng yếu. Những trường hợp này cho thấy khoảng cách lớn giữa quy định pháp luật và thực thi. Theo luận văn của Lê Thị Thủy Dương, nguyên nhân chính là do thiếu cơ chế giám sát độc lập và năng lực phát hiện vi phạm tinh vi còn yếu.

4.1. Phân tích vụ Gỗ Trường Thành TTF

TTF khai khống hàng tồn kho để thổi phồng tài sản, thu hút nhà đầu tư. Khi sự thật vỡ lở, cổ phiếu lao dốc, gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng. Tuy nhiên, cơ quan chức năng chỉ xử phạt hành chính với mức tối đa 50 triệu đồng – mức phạt không tương xứng với quy mô thiệt hại.

4.2. Bài học từ các vụ việc gần đây

Các vụ việc cho thấy cần tăng cường vai trò của kiểm toán độc lậpỦy ban Chứng khoán trong giám sát. Đồng thời, cần sửa đổi luật để nâng mức phạt và mở rộng khung hình phạt hình sự cho các hành vi gian lận có tổ chức.

V. Hướng dẫn hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm kế toán ở Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả pháp luật xử lý vi phạm kế toán, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần sửa đổi Nghị định 41/2018/NĐ-CP để nâng mức phạt lên ít nhất 5–10 lần so với hiện tại, tương xứng với quy mô vi phạm. Thứ hai, cần làm rõ tiêu chí phân định giữa vi phạm hành chính và tội phạm, tránh bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng. Thứ ba, tăng cường năng lực cho đội ngũ thanh tra kế toán thông qua đào tạo chuyên sâu và ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu. Cuối cùng, cần thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Ủy ban Chứng khoán và Bộ Công an để xử lý nhanh, chính xác các vụ việc phức tạp. Theo khuyến nghị trong luận văn của Lê Thị Thủy Dương (2018), việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm dựa trên AI và big data sẽ giúp phát hiện bất thường trong báo cáo tài chính ngay từ giai đoạn đầu.

5.1. Đề xuất sửa đổi khung phạt hành chính

Mức phạt nên được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị sai phạm (ví dụ: 5–20% giá trị gian lận), thay vì mức cố định. Điều này đảm bảo tính răn đe và công bằng, phù hợp với thông lệ quốc tế như Sarbanes-Oxley Act của Mỹ.

5.2. Tăng cường giám sát và phối hợp liên ngành

Cần thành lập trung tâm giám sát kế toán quốc gia để tổng hợp dữ liệu từ doanh nghiệp, cơ quan thuế và sàn chứng khoán. Việc chia sẻ thông tin theo thời gian thực sẽ giúp phát hiện sớm các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kế toán.

VI. Tương lai của pháp luật xử lý vi phạm kế toán tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập kinh tế sâu rộng, pháp luật xử lý vi phạm kế toán ở Việt Nam cần hướng tới tính minh bạch, tự động hóa và chuẩn mực quốc tế. Xu hướng rõ ràng là áp dụng công nghệ blockchain để lưu trữ chứng từ, AI để phân tích báo cáo tài chính, và hệ thống cảnh báo rủi ro tích hợp. Đồng thời, Việt Nam cần điều chỉnh luật kế toán theo chuẩn mực IFRS để phù hợp với thông lệ toàn cầu. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng thông tin kế toán mà còn thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, cần sự cam kết mạnh mẽ từ Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan và ý thức tuân thủ pháp luật từ chính doanh nghiệp. Như kết luận trong luận văn của Lê Thị Thủy Dương (2018), “chỉ khi chế tài đủ mạnh và minh bạch, kế toán mới thực sự trở thành ngôn ngữ chung của kinh doanh”.

6.1. Ứng dụng công nghệ trong giám sát kế toán

Các nền tảng kế toán điện tử tích hợp AI có thể phát hiện bất thường trong giao dịch, như doanh thu tăng đột biến không có chứng từ hỗ trợ. Việc áp dụng hóa đơn điện tửsổ kế toán số cũng giúp giảm thiểu gian lận.

6.2. Hội nhập quốc tế và chuẩn mực kế toán toàn cầu

Việt Nam đang trong lộ trình áp dụng IFRS từ năm 2025. Điều này đòi hỏi sửa đổi toàn diện Luật Kế toán và hệ thống xử lý vi phạm để phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt trong định nghĩa và xử lý gian lận tài chính.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài T.ịch sử tải chính thể giới đã chứng kiến nhiều sự sụp dỗ của những tập đoàn lớn trong lĩnh vực kế toán liên quan đến sự gian lận báo cáo tài chính như Erron (Hoa Kỳ), Worldcom (Iloa Kỷ) hay Vivendi (Pháp). Enron 1a céng ty khí tự nhiên lớn nhất Bắc Mỹ thập niên 90, giá cễ nhiều Hnron tăng vủn vụt qua các năm (tăng 311% từ 1990 đến 1998), là ngôi sao sáng chói trên thị trường chứng khoán Mỹ [32]. Tuy nhiên sự lăng trưởng không ngừng đó lại đi kèm với gian lận.

Ban điều hành đã khai thác những khe hở kể toán, sử dụng các thê chế đặc thủ và các báo cáo tải chính không trung thực để đẩy giá cổ phiếu, gây áp lực với công ty kiểm toán bố qua uáu vấn đề rúi ra ở Enron. Khi mọi việc vỡ lở đã làm công ty phá sản, giá cổ phiêu đang từ mức đỉnh cao 90 USD nam 2000 rơi xuống gòn chưa tới 1 USD vào cuối tháng 11 năm 2011, ác nhá đầu ur mat trắng hàng tý USD và khoảng 20.000 nhân viễn mắt việc làm. Vụ bê bối này đã đánh động tới các nhà chức trách ban hành luật xới nhằm tăng cường tính chính xác của báo cáo tải chính nói riêng, thông tin kế toán nỏi chung và đặc biệt là xây dựng hệ thống chế tài nghiêm mình xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực kế toán. Thực tế tại Việt Nam, năm 2016 dánh đâu một năm kí lục của những sự kiện gian lận kế toán bị phanh phui, từ việc thất thoát gần 1.000 tỷ đồng giá trị hàng tồn kho của CTCP Gỗ Trường Thành (TTF) hay thất thoát 400 tỷ hang tổn kho tại céng ty Ntaco (ATA) và mới dây nhất báo cáo soát xét của công ty Dầu thực vật Sài Gòn (SGO) cfing sai lệch và công ty phải đính chính lại số liệu sau một tháng [30].

Vậy nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là du đâu? Theo đánh giá của các nhà làm luật, một trong những nguyên nhân chủ yếu của những vụ thất thoát ngân sách nhà nước là do chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán còn nhiều bất cập vả không cỏ tính răn đc dẫn đến nhiều lỗ hồng kế toán, tạo mỗi trường cho những cá nhân, tổ chức lạm quyền thực hiện hành vi bắt hợp pháp gây thiệt hại cho cả nhân, tổ chức có liên quan nói riêng vả cho Nhà nước nói chung, 'Trong thời gian qua, hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán ở Việt Kam đang từng bước hoàn thiện vả góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng quản lý trong lĩnh vực kế toán. Pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán không chỉ giúp người quản lý doanh nghiệp điều hòa được tỉnh hình tải chỉnh thông qua việc giám sát thực hiện các nghiệp vụ kế †oản phát sinh mà còn có vai trò quan trọng đối với Nhà nước trong việc theo d&i sự phát triển của các ngành sản xuất kinh doanh, tổng hợp dược sự phát triển của nên kinh tế, là cơ sở để giải quyết tranh chấp về quyền lợi giữa các doanh nghiệp, cung cấp thông tin để tìm ra cách tỉnh thuế tốt nhất, hạn chế thất thu thuế, hạn chế sai lắm trong chính sách thuế Thực tiển cho thấy, việc đảm bảo thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán bên cạnh những ưu điểm đã bộc lộ nhiều bất cập như có nhiều qui định pháp luật còn chồng chóo, không thống nhất, chưa nhủ hợp với thực tế và thiểu tỉnh khả thi. Cụ thể như việc xử lý loại tội phạm liên quan đến hóa đơn trong thời gian qua cho thấy một số hạn chế được nhìn nhận cả từ phía cơ quan thuế và các cơ quan tiển hành tổ tụng. Với cơ quan thuế, đỏ là tinh trạng thật thu thuế khi DN ban hang khong xuất hóa đơn VAT cho người tiêu dùng, hoặc LìM hợp thức hóa các khoán chỉ phí bằng việc mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ.

Tuy nhiên, để xử lý cơ quan (huế địa phương gặp không ít khó khăn vỉ thủ tục kiểm tra phức tạp và mức xử phạt thấp (muôn kiểm tra, cơ quan thuế phải thông bão cho I2N biết trước 3 ngày, khi phát hiện DN ban hang khéng xuất hoá đơn kịp thời, nếu phạt cũng chí 10 triệu đồng, còn nêu không xuất hoá đơn thì có thể bị phạt về hành vi trốn thuế, nhưng mức phạt chỉ bằng 3 lần số tiền thuế trên số hàng bán không xuất hoá dơn) tạ Hoạt động giải thích pháp luật về xử lý vì phạm trong lĩnh vực kế toán đã triển khai song hiệu quả chưa cao din đến việc áp dụng các biện pháp xử lý vị phạm ở nhiều nơi cỏn tủy tiện hoặc dung túng bao che, không xử lý hoặc xử lý không kịp thời, làm nảy sinh tâm lý coi thường luật pháp. Hơn nữa các cơ quan có nhiệm vụ xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán còn lơ là trong việc rà soát một cách trung thực tất cả các dơn vị kinh doanh trên cä nước, diễu nay làm chất xúc tác cho hoạt động buôn bán hóa đơn chứng từ không, trấn thuế cảng gia tăng, Về mặt lý luận, vẫn dễ dám bão thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán đã được đặt ra nhưng chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nảo. Một số công trinh dược công bỗ chỉ nghiên cứu về phán luật kế Loán công chưa đi sâu vào xứ lý các vì phạm cụ thể cũng như chưa đưa ra được sự đánh giá tổng quan nhất về hệ thống pháp luật xử ly vi phạm trong lĩnh vực kế toán ở nước ta. Có thể thấy, cả về mặt lý luận vả thực tiễn, việc nghiên gứu toàn điện vấn đề đảm bảo thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán, tắc giá dã mạnh dạn chọn đề tải: “Pháp luật rễ xử lý vì phạm trong lĩnh vực kễ toán ở Việt Nam" đễ nghiên cứu.

Tinh hình nghiên cứu dỄ tài Trong thời kỳ đổi mới cũng có khá nhiều tác giả nghiên cứu về pháp luật kế toán, có thế kế đến những công trình nghiên cứu sau: Vũ Quốc Việt (2015), Thực trạng pháp luật kê toán ở Ưiệt Nam hiện nay và bướng hoàn thiện, Viện Dại học mở Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật Kinh tể, 2015. Luân văn nghiên cứu hệ thống pháp luật kế toán, đánh giá thực trạng, xác định những mặt tích cực, các vấn dễ hạn chế, nguyên nhân tồn tai va dua ra giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật kế toản Việt Nam, qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kế toán - kiểm toán trong điều kiện phát triển nền kamh tế thị trường vả hội nhập quốc tế 22. Thục trạng quy định về xử Ty vi phạm báo cáo tài chính và thực tiễn xứ lý vi phạm về báo cáo tài chính của danh nghiệp 31 221 Thực trạng quy định về xử lý vị pham bảo cáo tải chỉnh 51 2.2, Thực tiễn xử lý vi phạm về báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Thực trạng quy định về xử lý vi phạm quản lý số kế toán và in xứ lý vi phạm về quản lý số kế toán của doanh nghiệp thực 69 231 Thực trạng quy định về xứ lý vi phạm quản lý số kế toán.2 “Thực tiễn xứ lý vị phạm vẻ quản lý số kế toán của doanh nghiệp 73 Kết luận chương 2 76 Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRÔNG LĨNH VỰC KẾ TOÁN Ở VIỆT NAM TỪ THUC TIEN XU LY VI PHAM KE TOAN CUA DOANH NGHIỆP VÀ MỘT SỐ GIAI PHAP NANG CAO HIEU QUA XU’ LY VI PHAM 77 3.

Định hướng hoàn thiện pháp luật về xử H vi phạm trong lĩnh vực kế toán ở Việt Nam từ thực tiễn xử lý ví phạm kế toán của doanh nghiệp. Bao dim tinh ran đe của biệnphép: xử tý vi phạm. Bảo đắm đáp ứng yêu cầu bao quát các hành vỉ vi phạm và biện pháp xử lý - 3. Bảo đảm khắc phục những bất cập của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán " HH 32.

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xứ lý vì phạm trong lĩnh vục kế toán ở Việt Nam từ thực tiễn xử lý vi phạm kế toán của doanh nghiệp 321 ử lý ví phạm về hóa đơn của doanh nghiệp. Xử lý vi phạm về báo cáo tải chính của doanh nghiệp 3. Xử ý vi phạm về quản lý sẽ kế toán của doanh nghiệp. KET LUAN DANH MUC TAT LIEU THAM KHAO Hoạt động giải thích pháp luật về xử lý vì phạm trong lĩnh vực kế toán đã triển khai song hiệu quả chưa cao din đến việc áp dụng các biện pháp xử lý vị phạm ở nhiều nơi cỏn tủy tiện hoặc dung túng bao che, không xử lý hoặc xử lý không kịp thời, làm nảy sinh tâm lý coi thường luật pháp.

Hơn nữa các cơ quan có nhiệm vụ xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán còn lơ là trong việc rà soát một cách trung thực tất cả các dơn vị kinh doanh trên cä nước, diễu nay làm chất xúc tác cho hoạt động buôn bán hóa đơn chứng từ không, trấn thuế cảng gia tăng, Về mặt lý luận, vẫn dễ dám bão thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán đã được đặt ra nhưng chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nảo. Một số công trinh dược công bỗ chỉ nghiên cứu về phán luật kế Loán công chưa đi sâu vào xứ lý các vì phạm cụ thể cũng như chưa đưa ra được sự đánh giá tổng quan nhất về hệ thống pháp luật xử ly vi phạm trong lĩnh vực kế toán ở nước ta. Có thể thấy, cả về mặt lý luận vả thực tiễn, việc nghiên gứu toàn điện vấn đề đảm bảo thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán, tắc giá dã mạnh dạn chọn đề tải: “Pháp luật rễ xử lý vì phạm trong lĩnh vực kễ toán ở Việt Nam" đễ nghiên cứu. Tinh hình nghiên cứu dỄ tài Trong thời kỳ đổi mới cũng có khá nhiều tác giả nghiên cứu về pháp luật kế toán, có thế kế đến những công trình nghiên cứu sau: Vũ Quốc Việt (2015), Thực trạng pháp luật kê toán ở Ưiệt Nam hiện nay và bướng hoàn thiện, Viện Dại học mở Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật Kinh tể, 2015.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ