CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU VÀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1.1 Lý luận về nợ xấu và xử lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng.1 Khái quát về nợ xấu của tổ chức tín dụng.1 Định nghĩa nợ xấu. Nợ xấu vẫn luôn là chủ đề nóng được quan tâm trong hoạt động tín dụng không chỉ của ngành ngân hàng Việt Nam mà còn ở trong hệ thống ngân hàng các nước trên thế giới. Các thuật ngữ như “bad debt”, “non-performing loans” hay “doubtful debt” xuất hiện rất nhiều trong các bài nghiên cứu khoa học quốc tế hay trên tạp chí ngân hàng quốc tế với tần suất dày đặc. Điều này cho thấy, nợ xấu vẫn luôn được quan tâm và là bài toán khó, cần được giải quyết triệt để.
Đây cũng là chủ đề được bàn luận thường xuyên nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất cho đối tượng này. Các tổ chức kinh tế trên thế giới có đưa ra những cách hiểu về nợ xấu như sau: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định rằng: “Một khoản cho vay được xác định là khoản vay không sinh lời hay còn gọi là nợ xấu khi tiền lãi vay và/ hoặc tiền nợ gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản lãi vay đến 90 ngày hoặc trên 90 ngày mà đã được cơ cấu lại hoặc gia hạn thời gian trả nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các dấu hiệu nghi ngờ việc trả nợ sẽ được phía khách hàng thực hiện đầy đủ”. Từ định nghĩa trên thì nợ xấu từ hoạt động cho vay được đánh giá dựa trên hai yếu tố là thời gian quá hạn của khoản nợ và khả năng trả nợ đáng nghi ngờ của khoản vay khách hàng. Ủy ban Basel về giám sát hoạt động ngân hàng (BCBS) xác định rõ trong các hướng dẫn về thông lệ chung áp dụng tại nhiều quốc gia về công tác quản lý rủi ro tín 10 dụng rằng “Một khoản cho vay bị coi là không có khả năng hoàn trả được xác định khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (1) ngân hàng cho vay nhận định rằng người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khoản vay mặc dù ngân hàng chưa thực hiện hoạt động nhằm mục đích thu hồi, (2) người vay đã quá hạn thời hạn trả nợ trên 90 ngày”.
Dựa theo hướng dẫn này, nợ xấu cũng được đánh giá dựa trên yếu tố về thời gian nợ quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng. Theo đó, khoản nợ được coi là nợ xấu khi thỏa mãn một trong số các điều kiện hoặc thỏa mãn tất cả các điều kiện trên. Có thể thấy quan điểm trong cách đánh giá, nhận định về nợ xấu của các định chế tài chính trên có nhiều nét tương đồng. Theo đó, nợ xấu đều được xác định chủ yếu dựa trên hai tiêu chí: thời gian quá hạn nợ và khả năng trả nợ của khách hàng.
Ở Việt Nam, nợ xấu cũng được quy định cụ thể tại Thông tư số 11/2021/TT- NHNN ngày 30/7/2021 của NHNN “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. Theo đó, nợ xấu được khẳng định là nợ phát sinh từ hoạt động cho vay của các TCTD. Nợ xấu là khoản nợ thuộc các nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5. Dựa theo phương pháp định lượng và định tính, các khoản nợ xấu được phân loại vào các nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5.
Cơ sở đánh giá của hai phương pháp trên cũng dựa vào yếu tố thời gian quá hạn của khoản nợ và khả năng trả nợ của khách hàng. Từ những phân tích trên, có thể hiểu nợ xấu là khoản nợ mà khách hàng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong HĐTD khi đến hạn trả nợ. Nợ xấu có thời gian quá hạn trên 90 ngày và được xếp vào các nhóm nợ xấu bao gồm: nhóm 3, nhóm 4 nhóm 5.2 Đặc điểm của nợ xấu Thứ nhất, nợ xấu bắt nguồn từ những khoản vay khi các TCTD thực hiện nghiệp vụ cho vay. Khách hàng và TCTD xác lập mối quan hệ dựa trên HĐTD.
Theo đó, khách hàng phải thực hiện việc trả tiền gốc và tiền lãi đầy đủ và đúng hạn. Đối với các trường hợp 11 khách hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn, TCTD sẽ thực hiện được các kế hoạch kinh doanh của mình một cách thuận lợi, thúc đẩy quá trình phát triển của ngân hàng, dòng chảy luân chuyển vốn trong nền kinh tế được lưu thông. Ngược lại, nếu khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đúng hạn thì có thể dẫn đến nợ xấu. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của ngân hàng, gây ngưng trệ dòng tiền.
Thứ hai, nợ xấu được xác định là những khoản nợ dưới chuẩn. Theo quan điểm tại một số quốc gia, nợ xấu được biết đến với tên là nợ dưới chuẩn. Theo đó, một khoản nợ dưới chuẩn là một khoản nợ có thời gian quá hạn từ 90 ngày trở lên và phía TCTD có nghi ngờ về khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi vay của khách hàng. Khi đó, khoản nợ này sẽ được xếp vào nhóm “nợ xấu”.
Thứ ba, nợ xấu là thước đo đánh giá chất lượng tín dụng của các TCTD. Câu chuyện về nợ xấu đã quá quen thuộc trong hoạt động cấp tín dụng của các TCTD. Tuy nhiên, đây vẫn được coi là vấn đề đáng nhức nhối và cần được giải quyết. Giá trị của các khoản nợ xấu càng cao thì khả năng TCTD thu hồi được khoản nợ đó càng thấp.
Nợ xấu càng nhiều cho thấy sức khỏe tín dụng tại các TCTD càng suy yếu. Nhìn vào cơ cấu nợ xấu có thể đánh giá cơ bản về “sức khỏe tín dụng” của một TCTD.3 Phân loại nợ xấu “Phân loại nợ được hiểu là quá trình các ngân hàng xem xét các danh mục cho vay và đưa khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và điểm tương đồng của khoản vay. Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp các TCTD có thể kiểm soát chất lượng danh mục cho vay và trong trường hợp cần thiết sẽ có các biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh trong chất lượng tín dụng các danh mục cho vay. Trên thế giới, ở mỗi quốc gia khác nhau sẽ có các tiêu chí để phân loại nợ khác nhau.
Hiện nay, theo quy định tại Việt Nam, việc phân loại nợ xấu căn cứ vào hai phương thức định lượng và phương pháp định tính để đánh giá mức độ rủi ro của các 12 khoản vay và cam kết ngoại bảng. Trên cơ sở đó, phân loại các khoản nợ vào các nhóm nợ thích hợp. Phân loại theo phương pháp định lượng. Phương pháp định lượng phân loại nợ vào các nhóm dựa theo thời gian quá hạn của khoản nợ gốc hoặc thời gian quá hạn đối với khoản nợ đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN, TCTD thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm. Tuy nhiên, khoản nợ được đánh giá là nợ xấu thuộc vào các nợ nhóm 3, nợ nhóm 4, nợ nhóm 5. Nhóm 3 bao gồm: Các khoản nợ đã quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày (trừ các khoản nợ được quy định tại khoản 3 Điều này) hay các khoản nợ gia hạn lần đầu còn trong hạn. Nhóm 4 bao gồm: Các khoản nợ đã quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày (trừ các khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này) hoặc những khoản nợ đã được cơ cấu lại thời gian trả nợ lần đầu quá hạn đến 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
Nhóm 5 bao gồm: Các khoản nợ đã quá hạn trên 360 ngày hoặc các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. Phân loại theo phương pháp định tính Việc phân loại nợ theo phương pháp định tính dựa vào tính chất của các khoản nợ. Theo đó, các TCTD sẽ thực hiện đánh giá chất lượng khoản nợ thông qua khả năng hoàn trả nợ của khách hàng. Với phương pháp này, tương tự như phương pháp định lượng, các khoản nợ cũng được chia vào 5 nhóm nợ.
Tuy nhiên, theo phương pháp định tính, việc phân chia nợ vào các nhóm được xác định dựa theo khả năng trả nợ của khách hàng được đánh giá trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng rủi 13 ro của TCTD được NHNN chấp thuận chứ không xác định dựa trên số ngày nợ quá hạn như với phương pháp định lượng. Theo đó, các nhóm nợ bao gồm: Nợ nhóm 3 bao gồm: Các khoản nợ được các TCTD xác định rằng không còn khả năng thu hồi nợ gốc và lãi vay đúng hạn theo thỏa thuận. Các khoản nợ này được các TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất. Việc phân loại nhóm nợ dựa theo sự đánh giá chủ quan từ phía TCTD.
Bên cho vay nhìn nhận khả năng trả nợ của khách hàng từ việc đánh giá nhân thân khách hàng, tình hình sử dụng khoản vay, tình hình sản xuất kinh doanh theo phương án đã được TCTD phê duyệt. Nợ nhóm 4 bao gồm: Các khoản nợ được các TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất tài chính cao. Khoản nợ được đánh giá có khả năng tổn thất cao khi khách hàng chịu ảnh hưởng tổn thất nặng nề trong hoạt động kinh doanh (các nguyên nhân có thể kể đến như: thiên tai, dịch bệnh, tình hình kinh tế biến động,.) dẫn đến mất khả năng thanh toán. Điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ của khách hàng.
Nợ nhóm 5 bao gồm: Các khoản nợ được các TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, có nguy cơ mất vốn. Khoản nợ mà các TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, “mất trắng” khoản vay do các trường hợp đặc biệt như khách hàng chết (chết sinh học hoặc chết do TA tuyên), doanh nghiệp bị phá sản mà không còn tài sản để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.4 Ảnh hưởng của nợ xấu đến các tổ chức tín dụng và đến nền kinh tế Thứ nhất, ảnh hưởng của nợ xấu đến hoạt động kinh doanh của các TCTD Xuất phát từ đặc điểm nợ xấu bắt nguồn từ hoạt động cấp tín dụng của các TCTD.