Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Pháp luật về thế chấp bất động sản nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam" được tác giả Nguyễn Thị Mai Hoa thực hiện tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2019), thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số: 9380101.05), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Thị Thu Thủy và TS. Nguyễn Thị Lan Hương.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản mang lại nguồn doanh thu và lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng thương mại (NHTM), song cũng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tác động kéo dài từ cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ việc cho vay dưới chuẩn nhà đất tại Mỹ năm 2008, các NHTM Việt Nam phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gia tăng và nguy cơ nợ xấu gia tăng. Nhằm ngăn ngừa thiệt hại, thế chấp tài sản—đặc biệt là bất động sản (BĐS)—được các NHTM sử dụng phổ biến nhất do BĐS có giá trị lớn và tính ổn định cao.

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử qua các đại án ngân hàng như vụ Epco – Minh Phụng, vụ Huỳnh Thị Huyền Như, hay vụ án tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu (ACB – "Bầu Kiên") đã bộc lộ hàng loạt vướng mắc pháp lý phức tạp. Tình trạng BĐS thế chấp không thể phát mại để thu hồi nợ tạo ra rào cản lớn đối với năng lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Các khoảng trống pháp lý nổi cộm gồm có:

  • Quyền xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ) của NHTM bị cản trở khi khách hàng vay cố tình không bàn giao tài sản;
  • Thiếu nhất quán trong xác định giá trị quyền sử dụng đất (QSDĐ): áp dụng theo giá thị trường hay khung giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành;
  • Chưa xác định rõ danh mục giấy tờ pháp lý cần thiết đối với BĐS hình thành trong tương lai khi đăng ký giao dịch bảo đảm;
  • Sự lúng túng trong việc lựa chọn phương thức xử lý BĐS (thỏa thuận hay bắt buộc bán đấu giá);
  • Khái niệm "thời hạn hợp lý" quy định tại Điều 300 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 chưa được định lượng bằng số ngày cụ thể;
  • Sự phân tách cơ chế xử lý BĐS giữa các khoản nợ xấu và các khoản nợ quá hạn thông thường.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về thế chấp BĐS nhằm hạn chế rủi ro cho vay của NHTM ở Việt Nam, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Luận án xác định 04 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Thứ nhất, phân tích các vấn đề lý luận về thế chấp BĐS nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM (khái niệm, đặc điểm BĐS bảo đảm, phân loại rủi ro cho vay, bản chất pháp lý của biện pháp thế chấp và mối liên hệ giữa thế chấp BĐS với việc kiểm soát rủi ro);
  2. Thứ hai, làm rõ khái niệm, đặc điểm, cấu trúc của pháp luật về thế chấp BĐS nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM và các yếu tố tác động tới hệ thống pháp luật này;
  3. Thứ ba, nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực thi pháp luật Việt Nam về thế chấp BĐS trong hoạt động cho vay của NHTM;
  4. Thứ tư, đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về thế chấp BĐS tại NHTM ở Việt Nam để hạn chế rủi ro tín dụng.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án giải quyết 04 câu hỏi nghiên cứu:

  • Rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM có đặc thù gì so với rủi ro kinh doanh nói chung và rủi ro ngân hàng nói riêng? Biện pháp thế chấp BĐS có vai trò và mối liên hệ như thế nào đối với việc hạn chế loại rủi ro này?
  • Pháp luật về thế chấp BĐS nhằm hạn chế rủi ro trong cho vay ngân hàng được hiểu như thế nào, cấu trúc nội dung và các yếu tố tác động gồm những gì?
  • Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay bộc lộ những bất cập, vướng mắc nào và nguyên nhân từ đâu?
  • Những phương hướng và giải pháp cụ thể nào cần được áp dụng để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi?

Hệ thống 05 giả thuyết nghiên cứu gồm:

  1. Đặc điểm, bản chất pháp lý của rủi ro cho vay và vai trò đặc thù của thế chấp BĐS so với các biện pháp bảo đảm khác chưa được làm rõ trong các công trình đã công bố;
  2. Cơ sở lý luận về khái niệm, cấu trúc, yếu tố tác động của pháp luật thế chấp BĐS nhằm hạn chế rủi ro cho vay ngân hàng còn nhiều khoảng trống;
  3. Các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành chưa bảo đảm tối ưu sự an toàn cho hoạt động cho vay và chưa bảo vệ thỏa đáng quyền lợi của NHTM với tư cách là bên nhận thế chấp;
  4. Pháp luật thiếu tính đồng bộ, minh bạch trong các quy định về định giá TSBĐ, hiệu lực và thủ tục xác lập hợp đồng thế chấp (HĐTC), cũng như quyền thu giữ và xử lý TSBĐ;
  5. Pháp luật Việt Nam về thế chấp BĐS còn bất cập, chưa tương thích với thông lệ quốc tế và thực tiễn thị trường BĐS trong nước.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về pháp luật thế chấp BĐS nhằm hạn chế rủi ro cho vay của NHTM; các quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp BĐS tại các NHTM ở Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung vào BĐS là QSDĐ và nhà ở gắn liền với đất (không mở rộng sang tất cả các loại BĐS chuyên biệt khác). Về nguồn luật, luận án không nghiên cứu án lệ và tập quán thương mại do các nguồn này chưa được áp dụng phổ biến tại Việt Nam trong giải quyết tranh chấp thế chấp BĐS tại NHTM. Về nội dung rủi ro, đề tài chỉ nghiên cứu rủi ro phát sinh trực tiếp từ hoạt động cho vay (người vay không trả được gốc và lãi khi đến hạn), không đi sâu vào các loại rủi ro nghiệp vụ khác trong kinh doanh ngân hàng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm vấn đề chính:

Các hướng nghiên cứu đã công bố

Nhóm 1: Vấn đề lý luận về rủi ro cho vay và thế chấp BĐS:

  • Peter S. Rose (2004) trong Commercial Bank Management phân tích các rủi ro cốt lõi của ngân hàng (tín dụng, thanh khoản, thị trường, lãi suất, hoạt động).
  • Trương Quốc Cường, Đào Minh Phúc và Nguyễn Đức Thắng (2010) trong Rủi ro tín dụng thương mại ngân hàng – Lý luận và thực tiễn xác định bản chất rủi ro tín dụng là tình trạng bên vay không có khả năng hoàn trả gốc, lãi hoặc cả hai.
  • Nguyễn Văn Tiến (2002, 2013, 2015) qua các giáo trình và chuyên khảo về Quản trị ngân hàng thương mại, Tín dụng ngân hàng chỉ rõ nguyên nhân rủi ro tín dụng do TSBĐ không thể phát mại.
  • Trần Vũ Hải (2007) phân tích các chuẩn mực Basel về giám sát rủi ro tín dụng; Nguyễn Xuân Bang làm rõ ưu thế của công cụ pháp luật trong phòng ngừa rủi ro cấp tín dụng; Trương Thanh Đức cảnh báo tình trạng "rủi ro chồng rủi ro" khi thế chấp dự án BĐS đầu tư để vay vốn rồi lại bảo lãnh cho người mua nhà tại chính dự án đó.
  • Văn bản Principles for the Management of Credit Risk của Ủy ban Basel (BIS) đưa ra 17 nguyên tắc quản trị và 04 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro khoản vay cá nhân.
  • Lê Thị Thu Thủy (2005, 2006, 2016) qua các chuyên khảo phân tích hệ thống các biện pháp bảo đảm tiền vay, chỉ ra đặc thù rủi ro cho vay xuất phát từ việc vi phạm hợp đồng tín dụng và tính tất yếu của việc quản trị rủi ro.
  • Về bản chất tài sản và vật quyền, luận án kế thừa các nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Điện (1999, 2001) về phân loại BĐS và so sánh pháp luật Pháp; Ngô Huy Cương (1997, 2006) về thế chấp là vật quyền bảo đảm và 04 cách phân loại BĐS; Bùi Thị Nga (2012); Vũ Thị Hồng Yến (2013) về khái niệm xử lý tài sản thế chấp; Đỗ Hồng Thái (2006) và Lê Văn Bãng (2007) về sự chuyển giao tài sản và tiêu chí phân biệt cầm cố - thế chấp; các tài liệu quốc tế về Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (UCC) của Donald B. Kuenzel, Bradford Stone (1997) và James Brook (2008), cùng tài liệu của IFC (2010) về hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm.

Nhóm 2: Thực trạng pháp luật và giải pháp:

  • Nguyễn Thị Hồng Hương (2016) nghiên cứu quyền xử lý TSBĐ của TCTD; Trần Thị Bích Nhân (2016) chỉ ra các sai lệch trong định giá BĐS thế chấp; đề tài cấp bộ của Viện Khoa học pháp lý do Võ Đình Toàn chủ nhiệm (2013) khảo sát thực trạng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh ngân hàng.
  • Về kinh nghiệm quốc tế: Nguyễn Thị Lan Hương (2016) phân tích chế định thế chấp gốc và bảo lãnh bằng tài sản theo BLDS Nhật Bản; Phạm Toàn Thiện (2009) và Phạm Thị Lan Anh rút ra bài học từ khủng hoảng cho vay dưới chuẩn tại Mỹ; Trịnh Trọng Nghĩa (2007) khảo cứu mô hình bảo hiểm rủi ro tín dụng thế chấp BĐS tại Liên bang Nga; Nguyễn Ngọc Lương (2015) nghiên cứu pháp luật cấp tín dụng của NHTM.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận biện pháp thế chấp dưới góc độ dân sự thuần túy hoặc nghiên cứu quản trị rủi ro ở khía cạnh kinh tế học ngân hàng, chưa có công trình nào giải quyết toàn diện mối quan hệ hữu cơ giữa thế chấp BĐS với tư cách là công cụ pháp lý hạn chế rủi ro cho vay của NHTM. Đa số các nghiên cứu đều căn cứ trên BLDS 2005 và Luật Các TCTD cũ.

Luận án của NCS Nguyễn Thị Mai Hoa tập trung giải quyết:

  • Xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về pháp luật thế chấp BĐS nhằm hạn chế rủi ro cho vay của NHTM;
  • Đánh giá thực trạng pháp luật trong bối cảnh thi hành BLDS 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD năm 2017;
  • Phân tích tính bất hợp lý của quy định điều kiện hiệu lực của HĐTC phụ thuộc vào đăng ký biện pháp bảo đảm;
  • Tháo gỡ các vướng mắc trong thu giữ TSBĐ (sự bất cập của Nghị định 163/2006/NĐ-CP) và đề xuất áp dụng thủ tục rút gọn tại Tòa án khi xử lý BĐS thế chấp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng đa ngành các lý thuyết khoa học pháp lý và kinh tế - tài chính:

  • Lý thuyết quản trị rủi ro (Risk Management Theory): Làm cơ sở nhận diện các yếu tố bất trắc trong hoạt động cho vay, đòi hỏi NHTM phải đo lường rủi ro tiềm tàng để áp dụng biện pháp phòng ngừa tương ứng thông qua tài sản thế chấp.
  • Lý thuyết quan hệ pháp luật: Phân tích quan hệ hai tầng: (1) Quan hệ tín dụng giữa NHTM (bên cho vay) và khách hàng (bên vay); (2) Quan hệ bảo đảm giữa NHTM (bên nhận thế chấp) và bên thế chấp (khách hàng hoặc bên thứ ba).
  • Lý thuyết hợp đồng và tự do ý chí: Cơ sở luận giải quyền thỏa thuận các điều khoản quản lý, kiểm tra và xử lý TSBĐ không trái đạo đức và pháp luật.
  • Lý thuyết vật quyền (Property/Real Rights Theory): Xác định quyền đối kháng của NHTM đối với BĐS thế chấp trước người thứ ba và quyền ưu tiên thanh toán khi phát mại tài sản so với các chủ nợ không có bảo đảm.
  • Lý thuyết trách nhiệm pháp lý và lý thuyết hành vi: Nhận diện các hành vi vi phạm nghĩa vụ trả nợ, hành vi chống đối không bàn giao tài sản và cơ chế cưỡng chế thực thi.
Lý thuyết nền tảng Nội dung ứng dụng trong luận án
Lý thuyết quản trị rủi ro Đo lường mức độ bất trắc của luồng tiền trả nợ, xác lập cơ chế phòng ngừa rủi ro nợ xấu và bảo toàn vốn cho NHTM.
Lý thuyết quan hệ pháp luật Tách bạch và gắn kết hai mối quan hệ: quan hệ nghĩa vụ gốc (hợp đồng tín dụng) và quan hệ bảo đảm (hợp đồng thế chấp BĐS).
Lý thuyết vật quyền Thiết lập quyền ưu tiên thanh toán, quyền theo đuổi tài sản và hiệu lực đối kháng của bên nhận thế chấp đối với BĐS.
Lý thuyết hợp đồng Luận giải giá trị ràng buộc của các thỏa thuận xử lý tài sản, điều khoản phạt vi phạm và cơ chế ủy quyền xử lý nợ.
Lý thuyết trách nhiệm pháp lý Xác định nghĩa vụ bàn giao TSBĐ của bên thế chấp và thiết lập chế tài xử lý hành vi chây ỳ trốn tránh nghĩa vụ.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án thuộc hướng nghiên cứu luật học (định tính), sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể qua từng chương:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt từ Chương 1 đến Chương 4 để mổ xẻ các khái niệm rủi ro, phân loại BĐS và khái quát hóa các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định giữa BLDS 1995, BLDS 2005 và BLDS 2015; so sánh pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế (UCC Hoa Kỳ, BLDS Pháp, Nhật Bản, Liên bang Nga) tại Chương 1, 2 và 3.
  • Phương pháp diễn dịch – quy nạp: Đi từ nguyên lý chung về bảo đảm nghĩa vụ đến trường hợp đặc thù của thế chấp BĐS tại NHTM; từ các vụ án thực tiễn quy nạp thành các khiếm khuyết lập pháp.
  • Phương pháp phân loại pháp lý: Ứng dụng tại Chương 2 để phân chia BĐS theo đặc tính vật lý, bản chất, công năng và tình trạng pháp lý.
  • Phương pháp phân tích tình huống: Mổ xẻ các đại án thực tế (vụ Epco – Minh Phụng, Huỳnh Thị Huyền Như, ACB) tại Chương 3 để làm rõ xung đột pháp luật khi thu hồi nợ.
  • Phương pháp thống kê: Khảo sát các báo cáo số liệu thực tế về nợ xấu và xử lý TSBĐ của Ngân hàng Nhà nước và các NHTM.
  • Phương pháp dự báo: Ứng dụng tại Chương 4 để đề xuất phương hướng sửa đổi luật gắn liền với sự vận động của thị trường BĐS và tiến trình hội nhập ngân hàng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến thế chấp BĐS và quản trị rủi ro cho vay của NHTM. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước phần lớn mới dừng lại ở việc xem xét thế chấp như một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự nói chung, tách rời khỏi các yêu cầu nghiệp vụ về kiểm soát rủi ro tín dụng của ngân hàng.

Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các học giả như Peter S. Rose, Lê Thị Thu Thủy, Ngô Huy Cương, Nguyễn Ngọc Điện, tác giả xác định rõ các khoảng trống nghiên cứu cần tiếp tục giải quyết. Chương này cũng chuẩn hóa hệ phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý và thiết lập hệ khung lý thuyết nền tảng (quản trị rủi ro, vật quyền, hợp đồng) để triển khai các chương nội dung tiếp theo.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về thế chấp bất động sản và pháp luật về thế chấp bất động sản nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Chương 2 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm và cơ sở lý thuyết chuyên sâu:

  • Khái niệm hoạt động cho vay và rủi ro cho vay: Hoạt động cho vay của NHTM là hình thức cấp tín dụng có hoàn trả cả gốc và lãi theo kỳ hạn thỏa thuận. Tác giả định nghĩa: "Rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM là những tổn thất có thể xảy ra đối với NHTM khi người đi vay không trả nợ hoặc không trả nợ đầy đủ khoản nợ đến hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng cho vay và khách hàng vay".
  • Đặc điểm rủi ro cho vay: Luận án chỉ ra 06 đặc điểm cốt lõi:
    1. Là một dạng rủi ro tín dụng đặc thù gắn với tỷ lệ vốn tự có thấp của NHTM;
    2. Thường gắn liền với hành vi vi phạm nghĩa vụ trả nợ của khách hàng (do nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan);
    3. Được chia thành 05 cấp độ rủi ro: (i) Không thu được lãi đúng hạn; (ii) Không thu được vốn đúng hạn; (iii) Không thu được đủ lãi; (iv) Không thu được đủ vốn; (v) Không thu hồi được cả gốc và lãi;
    4. Gây phát sinh nợ xấu, đe dọa trực tiếp tính thanh khoản của NHTM và có thể gây sụp đổ hệ thống (hiệu ứng domino);
    5. Phát sinh từ nhiều nguyên nhân phức tạp: khách quan (thiên tai, biến động kinh tế vĩ mô) và chủ quan (khách hàng gian dối, chây ỳ hoặc yếu kém quản trị; cán bộ tín dụng sai phạm, chính sách ngân hàng lỏng lẻo);
    6. Hậu quả rủi ro mang tính dây chuyền, tác động tiêu cực đến an toàn tài chính quốc gia.
  • Bản chất pháp lý và vai trò của thế chấp BĐS: Tác giả phân loại BĐS theo bản chất, dụng đích và luật định. Thế chấp BĐS có đặc thù không chuyển giao tài sản mà chỉ chuyển giao giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu/sử dụng, bên thế chấp vẫn tiếp tục khai thác công năng tài sản. Biện pháp này đóng vai trò là "nguồn trả nợ thứ hai", vừa tạo áp lực tâm lý buộc bên vay thực hiện nghĩa vụ, vừa tạo cơ chế pháp lý để NHTM xử lý tài sản thu hồi nợ khi xảy ra biến cố vỡ nợ.
  • Cấu trúc pháp luật thế chấp BĐS: Gồm quy định về chủ thể; điều kiện BĐS thế chấp; xác lập và hình thức HĐTC; đăng ký biện pháp bảo đảm; quyền và nghĩa vụ các bên; xử lý BĐS thế chấp và giải quyết tranh chấp. Các yếu tố tác động đến pháp luật này gồm: môi trường kinh tế vĩ mô, chu kỳ thị trường BĐS, chính sách tiền tệ và hệ thống thể chế pháp lý chung.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về thế chấp bất động sản nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Chương 3 phân tích thực trạng các quy định thực định và chỉ ra các vướng mắc pháp lý:

  • Điều kiện đối với BĐS thế chấp: Quy định yêu cầu QSDĐ phải có Giấy chứng nhận, đất không có tranh chấp, trong thời hạn sử dụng và không bị kê biên. Bất cập phát sinh khi nhiều BĐS đang sử dụng ổn định nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận, hoặc đất vướng quy hoạch treo, gây rủi ro vô hiệu HĐTC.
  • Định giá BĐS thế chấp: Chưa có hành lang pháp lý minh bạch điều chỉnh hoạt động định giá nội bộ của NHTM và các tổ chức thẩm định giá độc lập. Việc xác định giá trị đất nông nghiệp, đất dự án có sự chênh lệch lớn giữa bảng giá đất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và giá trị thị trường, dẫn đến rủi ro định giá quá cao khi cho vay hoặc định giá quá thấp gây tranh chấp khi phát mại.
  • Mô tả tài sản và thủ tục công chứng, đăng ký: Quy định mô tả BĐS trong HĐTC chưa đồng bộ với hiện trạng biến động tài sản trên đất (như xây thêm công trình, chia tách thửa). Yêu cầu bắt buộc công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đăng ký đất đai còn nặng về hành chính, thời gian giải quyết kéo dài làm chậm trễ cơ hội cấp tín dụng.
  • Vấn đề hiệu lực của HĐTC: Pháp luật chưa phân định rạch ròi giữa thời điểm hợp đồng có hiệu lực pháp luật giữa các bên ký kết với thời điểm đăng ký để phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba.
  • Vướng mắc trong xử lý BĐS thế chấp:
    • Quy định tại Điều 300 BLDS 2015 yêu cầu bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một "thời hạn hợp lý" nhưng không ấn định cụ thể bao nhiêu ngày, dẫn đến việc bên thế chấp lợi dụng khiếu nại để kéo dài thời gian xử lý;
    • Quyền thu giữ TSBĐ của NHTM theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP và Nghị quyết 42/2017/QH14 gặp nhiều khó khăn trên thực tế do bên bảo đảm cố tình chống đối, không bàn giao tài sản, trong khi cơ quan công an và chính quyền địa phương thiếu cơ chế hỗ trợ cưỡng chế thu giữ đồng bộ;
    • Thỏa thuận ủy quyền xử lý TSBĐ thường bị bên thế chấp đơn phương chấm dứt hoặc vô hiệu hóa khi xảy ra tranh chấp;
    • Thủ tục khởi kiện tại Tòa án để xử lý BĐS kéo dài qua nhiều cấp xét xử, không áp dụng được thủ tục rút gọn, làm phát sinh chi phí lớn và tài sản bị suy giảm giá trị cơ học theo thời gian.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thế chấp bất động sản nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Chương 4 đề xuất định hướng và 09 nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:

  • Phương hướng: Đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh và kiểm soát rủi ro của NHTM; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên nhận thế chấp song song với quyền lợi người vay; bảo đảm tính đồng bộ giữa pháp luật ngân hàng, pháp luật dân sự, đất đai và tố tụng; phù hợp với chuẩn mực quốc tế về giao dịch bảo đảm.
  • 09 nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Tiêu chí BĐS thế chấp: Chuẩn hóa điều kiện pháp lý đối với BĐS đưa vào thế chấp, đặc biệt là hướng dẫn cụ thể về hồ sơ pháp lý đối với BĐS hình thành trong tương lai;
    2. Thủ tục xác lập HĐTC: Cải cách và đơn giản hóa thủ tục công chứng, liên thông dữ liệu giữa tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan đăng ký đất đai và NHTM;
    3. Cơ chế xử lý khi không có thỏa thuận: Quy định rõ cơ chế mặc định xử lý BĐS thông qua tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp khi các bên không thống nhất được phương thức xử lý;
    4. Hoàn thiện quyền thu giữ TSBĐ: Luật hóa quyền thu giữ BĐS thế chấp của NHTM khi đã đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định, quy định trách nhiệm bắt buộc của chính quyền địa phương và cơ quan công an trong việc hỗ trợ bảo đảm an ninh trật tự khi ngân hàng thu giữ;
    5. Chuyển quyền sở hữu BĐS sau xử lý: Đơn giản hóa thủ tục hành chính khi sang tên cho người mua tài sản phát mại mà không cần sự hợp tác ký tá của chủ sở hữu cũ;
    6. Áp dụng thủ tục rút gọn tại Tòa án: Sửa đổi Bộ luật Tố tụng Dân sự nhằm áp dụng thủ tục rút gọn đối với các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng có thế chấp BĐS khi hồ sơ vay mượn và bảo đảm đã rõ ràng, không có yếu tố hình sự;
    7. Thế chấp BĐS là dự án đầu tư: Quy định chặt chẽ cơ chế kiểm soát dòng tiền, ngăn chặn triệt để tình trạng một dự án vừa thế chấp vay vốn đầu tư vừa bảo lãnh bán nhà ở hình thành trong tương lai mà không có sự đồng thuận bằng văn bản của ngân hàng nhận thế chấp dự án;
    8. Cơ chế xử lý nợ xấu: Hoàn thiện khung khổ pháp lý về mua bán nợ, tạo lập thị trường mua bán nợ xấu tập trung và cho phép tổ chức mua bán nợ được thực hiện đầy đủ quyền xử lý tài sản thế chấp như NHTM;
    9. Phương thức gán nợ: Hoàn thiện quy định cho phép NHTM được nhận chính BĐS thế chấp để trừ nợ ("phương thức gán nợ") kèm cơ chế thời hạn nắm giữ và chuyển nhượng tài sản này phù hợp với Luật Các TCTD.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Xây dựng định nghĩa khoa học về rủi ro cho vay của NHTM gắn với chức năng trung gian tài chính và bản chất mối quan hệ hợp đồng tín dụng;
  • Hệ thống hóa và phân loại 06 đặc điểm pháp lý cùng 05 cấp độ rủi ro trong cho vay ngân hàng;
  • Phân tích bản chất vật quyền của biện pháp thế chấp BĐS, chứng minh vai trò của thế chấp như một công cụ dự phòng tổn thất và cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ trả nợ;
  • Xác lập cấu trúc nội dung của chế định pháp luật về thế chấp BĐS nhằm hạn chế rủi ro cho vay, đồng thời chỉ rõ các yếu tố kinh tế, pháp lý, xã hội tác động đến quá trình thực thi.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Nhận diện toàn diện hệ thống các vướng mắc pháp lý nảy sinh từ BLDS 2015, Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Các TCTD xung quanh việc nhận và xử lý BĐS thế chấp;
  • Chỉ rõ sự thiếu hụt quy định định lượng đối với "thời hạn hợp lý" tại Điều 300 BLDS 2015 và sự bất cập của cơ chế ủy quyền xử lý TSBĐ hiện hành;
  • Đề xuất hệ thống 09 nhóm giải pháp lập pháp và thực thi mang tính khả thi cao, tháo gỡ điểm nghẽn về quyền thu giữ tài sản, thủ tục tố tụng rút gọn và cơ chế xử lý dự án BĐS thế chấp nhằm giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở hai loại tài sản thế chấp thông dụng nhất là QSDĐ và nhà ở gắn liền với đất; chưa đi sâu nghiên cứu các loại BĐS đặc thù khác như công trình ngầm, công trình xây dựng trên biển, tài nguyên khoáng sản hay tài sản hình thành trong tương lai không phải là nhà ở. Ngoài ra, luận án không nghiên cứu nguồn án lệ và tập quán thương mại do thực tiễn áp dụng các nguồn này trong tranh chấp tín dụng ngân hàng tại thời điểm nghiên cứu chưa phổ biến ở Việt Nam. Về mặt rủi ro, luận án chỉ tập trung vào rủi ro tín dụng cho vay, không bao quát các rủi ro vận hành, rủi ro thị trường hay rủi ro hối đoái.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo đảm nghĩa vụ đối với toàn bộ các loại tài sản gắn liền với đất chuyên dụng; khảo cứu thực tiễn áp dụng các án lệ liên quan đến bảo đảm tiền vay sau khi hệ thống án lệ Việt Nam được ban hành nhiều hơn; nghiên cứu cơ chế phối hợp quốc tế trong việc xử lý BĐS bảo đảm có yếu tố nước ngoài.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp (Quốc hội, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao): Cung cấp luận cứ thực tiễn để sửa đổi, bổ sung BLDS, Luật Các TCTD, Luật Đất đai, các văn bản hướng dẫn về giao dịch bảo đảm và Nghị quyết của Quốc hội về xử lý nợ xấu;
  • Các ngân hàng thương mại và cán bộ pháp chế, cán bộ tín dụng: Hỗ trợ quy trình thẩm định rủi ro pháp lý của BĐS, kỹ thuật soạn thảo HĐTC, thỏa thuận điều khoản xử lý TSBĐ và phương án ứng phó khi phát sinh tranh chấp;
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo về lý luận vật quyền bảo đảm, pháp luật tín dụng ngân hàng và quản trị rủi ro nợ xấu.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM thành những cấp độ nào?

Theo phân tích tại Chương 2, luận án chỉ ra rủi ro cho vay của NHTM được chia thành 05 cấp độ cụ thể:

  1. Rủi ro không thu được lãi đúng hạn;
  2. Rủi ro không thu được vốn gốc đúng hạn khi hợp đồng tín dụng đến hạn;
  3. Rủi ro không thu được đủ số tiền lãi;
  4. Rủi ro không thu được đủ số tiền vốn đã cho vay;
  5. Rủi ro mất trắng, không thu hồi được cả gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký.

2. Bất cập chủ yếu trong việc định giá QSDĐ thế chấp tại NHTM được tác giả nêu ra là gì?

Tác giả nêu rõ việc định giá QSDĐ hiện gặp mâu thuẫn lớn giữa hai hệ thống giá: bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành (thường thấp hơn nhiều so với thị trường) và giá thị trường tự do (thường xuyên biến động bất thường). Việc áp dụng giá thị trường thiếu căn cứ thẩm định chuẩn xác dễ dẫn đến rủi ro định giá quá cao khi giải ngân, còn nếu áp dụng khung giá nhà nước thì không phản ánh đúng giá trị thực tế của khoản vay, gây khó khăn cho việc xử lý thu hồi nợ khi phát mại.

3. Quy định tại Điều 300 BLDS 2015 về thông báo xử lý tài sản bảo đảm bộc lộ hạn chế gì?

Điều 300 BLDS 2015 quy định bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một "thời hạn hợp lý" cho bên bảo đảm trước khi xử lý tài sản. Hạn chế là luật không quy định rõ "thời hạn hợp lý" là thời gian bao nhiêu ngày, cũng không phân định sự khác nhau giữa TSBĐ là động sản và BĐS. Sự thiếu cụ thể này khiến các bên vay thường lợi dụng để khiếu nại, cho rằng ngân hàng thông báo chưa hợp lý nhằm trì hoãn việc bàn giao BĐS.

4. Vì sao cho vay thế chấp dự án bất động sản lại bị đánh giá là "rủi ro chồng rủi ro"?

Theo luận án (dẫn quan điểm của Luật sư Trương Thanh Đức), một dự án BĐS được chủ đầu tư đem thế chấp cho ngân hàng để vay vốn thực hiện dự án; sau đó ngân hàng lại tiếp tục giải ngân cho khách hàng cá nhân vay để mua các căn hộ tại chính dự án này. Như vậy, cùng một đối tượng BĐS nhưng ngân hàng đã hai lần giải ngân cho hai chủ thể vay khác nhau. Khi chủ đầu tư vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngân hàng vừa vướng quyền lợi của khách hàng mua nhà, vừa khó thu giữ phát mại toàn bộ dự án để thu hồi nợ.

5. Luận án đề xuất giải pháp đột phá nào về mặt tố tụng khi NHTM xử lý bất động sản thế chấp qua Tòa án?

Luận án kiến nghị sửa đổi Bộ luật Tố tụng Dân sự nhằm cho phép áp dụng thủ tục rút gọn đối với việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng có thế chấp BĐS khi các bên đã xác lập giao dịch đầy đủ, hồ sơ thế chấp và nghĩa vụ nợ rõ ràng. Việc xét xử theo thủ tục rút gọn giúp rút ngắn đáng kể thời gian tố tụng, tiết kiệm chi phí cho ngân hàng và hạn chế việc tài sản bị suy giảm giá trị cơ học do vụ án bị kéo dài qua nhiều cấp xét xử.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Mai Hoa là công trình nghiên cứu chuyên khảo pháp lý toàn diện về chế định thế chấp BĐS dưới góc độ hạn chế rủi ro cho vay của các NHTM ở Việt Nam. Luận án đã làm rõ bản chất vật quyền của biện pháp thế chấp, phân loại cụ thể các cấp độ rủi ro tín dụng và đánh giá hệ thống các bất cập pháp lý từ khâu xác lập, công chứng, đăng ký cho đến thu giữ, phát mại TSBĐ theo BLDS 2015. Hệ thống 09 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn cao, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý trong xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.