Chương 1: Lý luận về đấu giá quyền sử dụng đất và pháp luật về đấu giá quyền sử dụng đất. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về đấu giá quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật để bảo đảm thực hiện và nâng cao hiệu quả đấu giá quyền sử dụng đất tại tỉnh Ninh Bình. CHUONG 1 LY LUAN VE DAU GIA QUYEN SU DUNG DAT VA PHAP LUAT VE DAU GIA QUYEN SU DUNG DAT 1.
Lý luận về đấu giá quyền sử dụng đất 1. Khái niệm đấu giá quyền sử dụng đất Trước khi bàn về đấu giá QSDĐ, cần hiểu về ĐGTS. Đấu giá là một phương thức bán hàng đặc biệt đã được biết đến từ lâu, là hình thức bán một món hàng bằng cách đưa ra mức giá khởi điểm rất thấp và để nhiều người mua cùng trả giá một lúc. Ai đưa ra mức giá cao nhất thì món đồ/sản phẩm sẽ thuộc về người đó.
Nhìn chung, về khách quan, đấu giá là một hoạt động kinh tế, dân sự diễn ra theo quy luật vận hành của nên kinh tế hàng hóa thị trường. Về phương diện kinh tế, đấu giá là một phương pháp xác định giá trị của hàng hóa thông qua việc trả giá của những người tham gia mua hàng hóa đó. Dưới góc độ dân sự, bán đấu giá có thể được hiểu là hình thức bán hàng đặc biệt để cho những người mua tự trả giá không thấp hơn giá do người bán quy định. Ai trả giá cao nhất sẽ được mua.
Bán đấu giá có thê được thức hiện dưới hình thức tất cả những người mua được trả giá một lần thông qua bỏ phiếu kín hoặc những người mua được phép trả giá nhiều lần công khai trong một khoảng thời gian xác định [13, tr. Dưới góc độ pháp lý, Nghị định số 05/2005 NĐ-CP ngày 18/01/2005 về Bán ĐGTS định nghĩa khái niệm bán ĐGTS như sau: Bán ĐGTS là hình thức bán tài sản công khai theo phương thức trả giá lên, có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục được quy định tại Nghị định này” [7, Điều 2]. Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/03/2010 về bán ĐGTS quy định: “Bán ĐGTS là hình thức bán tài sản công khai theo phương thức trả giá lên, có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục được quy định tại Nghị định này. Phương thức trả giá 10 lên là phương thức trả giá từ thấp lên cao cho đến khi có người trả giá cao nhất” [9, Điều 2].
Nhu vậy có thê thấy, khái niệm bán ĐGTS từ Nghị định số 86/ND-CP ngày 19/12/1996 cho đến Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/03/2010 đã có sự phát triển dần qua 03 nghị định. Các định nghĩa mang tính khái quát nhưng đã nêu được tính chất cơ bản của bán ĐGTS. Qua mỗi nghị định thì khái niệm dần đã được khái quát mang tính hoàn thiện hơn. Đến năm 2016, một luật riêng về bán đấu giá, đó là: Luật đấu giá số 01/2016/QH14 ngày 17/1/2016 chính thức ra đời, đã tối giản hóa khái niệm ĐGTS như sau: “ĐGTS là hình thức bán tài sản có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc, trình tự và thủ tục được quy định tại Luật này” [11, Điều 5].
Mặc dù các định nghĩa về bán ĐGTS tại mỗi thời kì khác nhau Song về cơ bản, các khái niệm được đưa ra đều dựa trên những đặc điểm chung thong nhất của hình thức bán hàng hóa đặc biệt này. Từ đó, có thê khái quát về khái niệm bán ĐGTS như sau: Bán ĐGTS là hình thức bán tài sản công khai để cho nhiều người có thể được tham gia trả giá mua một tài sản công khai và theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định, trong đó, người bán dau giá điều khiển nhằm bán được tài sản tại mức giá cao nhất, người trả giá cao nhất và ít nhất ít nhất bằng giá khởi điểm đối với tài sản sẽ mua được tài sản bán đấu giá. “Dat dai la tai nguyên của quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt; là tài sản nguồn lực to lớn của đất nước, là nguồn sống của nhân dân ta |4. 46], pháp luật hiện hành của Việt nam quy định: “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” [20, Điều 17, Điều 18]; [21, Điều 5].
Như vậy, đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng Nhà nước giao cho nhân dân quyền sử dụng thông qua các hình thức: 11 giao đất, cho thuê đất và công nhận QSDĐ, quyền chuyển đổi, chuyên nhượng, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn QSDĐ theo quy định của pháp luật. Như vậy, QSDĐ này có thê hiểu chính là quyền sử dụng tài sản trong chính Khoản ] Điều 105 của Bộ luật Dân sự 2015. Xét dưới góc độ kinh tế, QSDD là một loại tài sản, vậy chúng được đem ra mua bán, giao dịch theo quan hệ pháp luật dân dân sự tạo ra một thị trường bất động sản mà ở đó, Nhà nước bằng một trong các hình thức đó là DGTS dé giao QSDĐ có thu tiền hoặc cho thuê cho người có nhu cầu sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Dưới góc độ pháp lý, đấu giá QSDĐ là một quan hệ mua bán tài sản.
Đối tượng đem ra để mua, bán trong quan hệ này là QSDĐ. Chủ thể tham gia quan hệ một bên bao gồm cá nhân, tổ chức có QSDĐ hoặc cơ quan nhà nước có thâm quyên giao đất, cho thuê đất là bên bán; một bên là cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng dat dé lam nhà ở hoặc sản xuất kinh doanh là bên mua. Trong mối quan hệ này những người tham gia mua QSDĐÐ phải cạnh tranh với nhau về giá. Cuộc mua bán diễn ra công khai tại một nơi nhất định, ở đó người có QSDĐ đưa ra giá bán với mức giá khởi điểm còn những người mua tham gia đấu giá tự do để đưa ra giá trong sự cạnh tranh với những người khác nhằm mục đích mua được QSDĐ để phục vụ nhu cầu của mình.
Người chiến thắng trong cuộc đấu giá là người mua được QSDĐ là người trả giá cao nhất, ít nhất bằng giá khởi điểm. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về đấu giá QSDĐ như sau: Đấu giá QSDĐ để Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất là một hình thức mua bán tài sản đặc biệt, được tổ chức công khai theo nguyên tắc, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, do người ban đấu giá điều khiển nhằm bản được QSDĐ cho người mua với giá cao nhất. Người trúng đấu giá QSDĐ là người trả giá cao nhất và ít nhất bằng 12 giá khởi điểm mà người bản dua ra. Người bán đấu giá là Cơ quan Nhà nước có thẩm quyên giao đất, cho thuê đất, người mua là là cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng đất.
Đặc điểm đấu giá quyền sử dụng đất Đấu giá quyền sử dụng đất thuộc một trong các loại của hoạt động trao đổi tài sản, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người có nhu cầu sử dụng, ngược lại sẽ nhận về một số tiền nhất định. Do đó, đấu giá quyền sử dụng đất có đầy đủ những đặc điểm chung của việc mua bán hàng hóa và đấu giá tài sản, cụ thê như sau: - Quan hệ mua ban, dau giá tài sản được xác lập giữa bên mua và bên bán thông qua một tổ chức đấu giá trung gian. Tổ chức đấu giá trung gian phải được cơ quan nhà nước có thâm quyền cấp phép hoạt động, tuân thủ đầy đủ các điều kiện và nguyên tắc mà pháp luật đặt ra. Bên bán tài sản sẽ chuyển quyền sở hữu tài sản của mình hoặc của chủ sở hữu tài sản cho bên mua khi đạt được thỏa thuận về giao dịch.
Thời điểm bên mua trở thành chủ sở hữu tài sản là thời điểm nhận tài sản, giao kết hợp đồng, thời điểm các bên thỏa thuận hoặc thời điểm do pháp luật quy định; - Mua bán, đấu giá tài sản sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Các bên sẽ tiễn hành trao đổi lợi ích cho nhau với mục tiêu hai bên cùng có lợi. Bên bán có nghĩa vụ giao tài sản, chuyên quyền sở hữu của tài sản và nhận tiền. Ngược lại, bên mua có nghĩa vụ trả tiền và nhận tài sản, nhận quyên sở hữu của tài sản; - Các giao dịch mua bán tài sản, đặc biệt là đấu giá tài sản cần được tổ chức theo nguyên tắc công khai, tuân thủ theo hình thức, trình tự, thủ tục luật định.
Một cuộc đấu giá cần có ít nhất hai người tham gia và người mua thành công tài sản chính là người trả giá cao nhất và không thấp hơn giá quy định. Trong bán ĐGTS là QSDĐ, Đất đai là một tài sản đặc biệt, mang tính đặc trưng của chê độ Nhà nước sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện sở 13 hữu, vì vậy cho nên NSDĐÐ đai chỉ có QSDĐ. Chính vì đặc tính đặc biệt này, Bán đấu giá QSDĐ cũng là một hình thức mua bán đặc biệt, mang đặc điểm riêng biệt, khác với các hình thức bán ĐGTS khác. Bên cạnh những đặc điểm chung của đấu giá tài sản, đấu giá quyền sử dụng đất còn có những đặc điểm riêng biệt khó có thể nhằm lẫn: Thứ nhất, chủ thê trong đấu giá QSDĐ, phải nhắc đến đầu tiên người có tài sản bán đấu giá và quản lý việc đấu giá là cơ quan nhà nước có thẩm quyên theo quy định của pháp luật, đại điện chủ sở hữu toàn dân về đất đai cụ thé là Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyên giao đất cho thuê đất.
Cơ quan này được quyển quy định xét mức giá khởi điểm, bước giả, xác nhận kết quả bán đấu giá thu tiền theo kết quả bán đấu giá và sử dụng số tiên thu được theo quy định của pháp luật ngân sách nhà nước [| L7, tr. Như vậy, trong quan hệ đấu giá QSDĐ, Nhà nước với tư cách là một chủ thê đặc biệt và tham gia trực tiếp vào quá trình đấu giá QSDĐ (thông qua cơ quan nhà nước có thâm quyền: UBND cấp có thâm quyền, Sở Tài nguyên — Môi trường. Đặc điểm này của đâu giá QSDĐ khác với đấu giá thương mại. Trong quan hệ đấu giá thương mại, người có tài sản bán đấu giá là chủ sở hữu tài sản hoặc được người chủ sở hữu ủy quyền việc bán tài sản cho người thực hiện đấu giá.