Chương 1 này) về phương pháp nghiên cứu lịch sử, NCS muốn hiểu kỹ hơn về sự hình thành của các BPPVTM nên công trình này đóng vai trò quan trọng. Bởi vì, dựa trên sự phân tích của mình, tác giả này đã chỉ ra rằng biện pháp CBPG và CTC có nguồn gốc ra đời khá sớm, cụ thể là từ Luật CTC của Hoa Kỳ (ban hành lần đầu tiên năm 1890 đến đạo luật năm 1921) và các quy định liên quan đến CBPG của Hoa Kỳ được xem là những quy định đầu tiên có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nội dung quy định về CBPG của GATT 194713 và sau này là của WTO14. Công trình nghiên cứu này cũng phân tích về bản chất và ý nghĩa thực sự của các BPPVTM khi được các nước ký kết Hiệp định GATT 1947 sử dụng trong thời gian từ khi GATT ra đời cho đến những năm 1990. Tuy nhiên, NCS cho rằng, trong nghiên cứu này, John J.
Barceló chưa phân tích được những hạn chế, bất cập trong quy định của GATT 1947 về CBPG hay CTC so với thực tiễn áp dụng 12 John J. Barceló III (1991), “A History of GATT Unfair Trade Remedy Law- Confusion of Purposes” (tạm dịch: Lịch sử sự không công bằng trong Luật Phòng vệ thương mại của GATT- Sự nhầm lẫn của các mục đích), GATT unfair trade law, p.311-333 theo https://scholarship.edu/cgi/viewcontent.cgi? article=1299&context=facpub, truy cập ngày 31/12/2018. Barceló III (1991), tlđd (12), tr. 14 WTO ra đời và chính thức hoạt động từ năm 1995 để thay thế cho GATT 1947.
Mặc dù vậy, GATT 1947 vẫn được giữ lại, sửa đổi và trở thành GATT 1994 và là “luật chơi” của WTO về thương mại hàng hóa. 8 của các nước tham gia GATT 1947. Mặc dù VN không gia nhập GATT 1947 nhưng các phân tích được nêu trong bài viết rất bổ ích đối với NCS, do có sự phân tích chi tiết về lịch sử ra đời của các biện pháp CTC và biện pháp CBPG cũng như chỉ ra những kinh nghiệm cụ thể về việc áp dụng 2 biện pháp này từ các nước gia nhập GATT 1947. Công trình “The WTO and Developing Countrie: Will Vietnam benefit from being a WTO Member?” (tạm dịch: WTO và các nước đang phát triển: Việt Nam có được lợi khi trở thành thành viên WTO không?) của tác giả Aileen Kwa15 có nhiều phân tích mang tính khuyến cáo gửi cho VN khi VN đang trong giai đoạn chuẩn bị các bước để gia nhập WTO.
Nội dung của công trình này có thể chia thành 03 vấn đề lớn sau: i). Những mặt trái cần lưu ý đối với quốc gia đang phát triển khi gia nhập WTO; ii). Cơ chế hoạt động của WTO không tạo điều kiện thuận lợi và sự công bằng cho các quốc gia khi là thành viên của WTO; iii). Các khuyến cáo đối với VN, trong đó có khuyến cáo về các BPPVTM.
Bài viết này được công bố từ năm 1999, cách đây hơn 20 năm nhưng một số thông tin về mặt trái cần lưu ý mà tác giả này đưa ra đối với quốc gia đang phát triển, cơ chế hoạt động của WTO không tạo điều kiện thuận lợi và sự công bằng cho các quốc gia kém phát triển. VN cần thực hiện các giải pháp và tập trung nguồn lực để phát triển SX, đa dạng hóa sản phẩm XK… để chuẩn bị các điều kiện, trong đó có điều kiện về áp dụng các biện pháp CBPG, CTC… vẫn là những vấn đề rất nóng trong thời điểm hiện nay. Đây là một tài liệu giúp NCS có căn cứ luận giải cho các đề xuất, các giải pháp hỗ trợ VN vận dụng tốt công cụ PVTM được WTO cho phép để bảo vệ ngành SX trong nước. Tuy nhiên, nội dung bài viết này chưa đề cập vấn đề mà riêng VN cần quan tâm đối với những quy định của GATT 1994 và các hiệp định liên quan đến các BPVTM trong các hiệp định ADA, SCM, SG của WTO khi VN là thành viên của WTO.
Công trình “Aspects juridiques de la participation des Etats de l’ASEAN à l’OMC” năm 2008 (“tạm dịch là Các khía cạnh pháp lý đối với sự tham gia của các 15 Aileen Kwa, “The WTO and Developing Countries: Will Vietnam Benefit from Being a WTO Member?” (tạm dịch: WTO và các nước đang phát triển: Việt Nam có được lợi khi trở thành thành viên WTO không?) do Aileen Kwa là một cộng sự nghiên cứu với Focus on the Global South viết. Báo cáo này đã được trình bày tại hội thảo WTO và các nước đang phát triển do Tổ chức Hợp nhất kinh tế quốc tế của Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức và được tài trợ bởi Oxfam (GB), ngày 5/03/1999 theo https://focusweb.org/the-wto-and- developing-countries-will-vietnam-benefit-from-being-a-wto-member/, truy cập ngày 12/12/2018. 9 nước ASEAN trong WTO ) của tác giả Trần Thị Thùy Dương16 đã khẳng định việc tham gia WTO là một chính sách mở cửa nền kinh tế của các quốc gia thuộc ASEAN, giúp các quốc gia này có nhiều cơ hội để phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, các quốc gia phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như sự thiếu hụt về tài chính, nguồn nhân lực, khoa học kỹ thuật, sự cạnh tranh không lành mạnh của các ngành sản xuất ngoài nước từ các thành viên của WTO, nhất là Ấn Độ và Trung Quốc.
Trên cơ sở phân tích, cung cấp các số liệu, kinh nghiệm và án lệ đã xét xử của WTO, trong đó có nhiều án lệ liên quan đến việc áp dụng các BPPVTM, tác giả này đã khuyến nghị một số nội dung liên quan đến việc tìm kiếm một chính sách mở cửa kinh tế hợp lý đối với các nước ASEAN trong đó có VN. Với NCS, đây là một tài liệu quý vì nó vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn giúp cho NCS có thêm sự hiểu biết khi luận giải cho các giải pháp, kiến nghị, nêu trong luận án của mình, về đổi mới chính sách về TMQT nói chung, liên quan đến FTA và hoàn thiện xây pháp luật về PVTM của VN nói riêng phù hợp với đặc thù chính trị, kinh tế, xã hội trong phạm vi ASEAN, FTA và WTO. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đề cập nhiều đến thực trạng nền kinh tế của Việt Nam, các giải pháp về mặt chính sách và pháp luật, trong đó việc khai thác và giải pháp nên áp dụng một trong ba BPPVTM nào để bảo vệ ngành SX trong nước của VN chưa được tác giả công trình này chú trọng phân tích. Ấn phẩm “Redesigning the World Trade Organization for the Twentyfirst Century”17 (tạm dịch: Cải cách lại Tổ chức Thương mại thế giới cho thế kỷ XXI) do Debra P.
Steger chủ biên (Trường Đại học Wilfrid Laurie, Canada xuất bản năm 2009) với hàng loạt bài bình luận18 đã khái quát tổng thể mô hình và các thiết chế 16 Trần Thị Thùy Dương (2008), “Aspects juridiques de la participation des Etats de l’ASEAN à l’OMC” (“tạm dịch là Các khía cạnh pháp lý đối với sự tham gia của các nước ASEAN trong WTO), NXB L’Harmattan, Paris, 2008, 815 trang. Steger (2010), “Redesigning the World Trade Organization for the Twenty-first Century” (tạm dịch: Cải cách lại Tổ chức Thương mại Thế giới cho Thế kỷ XXI), ISBN 978-1-55250-455-0, The Centre for International Governance Innovation (CIGI) and Wilfrid Laurier University Press. 18 “Why Institutional reform of the WTO is necessary” (tạm dịch: Tại sao cần cải cách thể chế của WTO) của tác giả Debra Steger; “Reinvigorating debate on WTO reform: The Contours of a functional and normative approach to analyzing the WTO System” (tạm dịch: Làm sôi động cuộc tranh luận về cải cách WTO: Các khía cạnh của cách tiếp cận chức năng và quy chuẩn để phân tích Hệ thống WTO) của tác giả Carolyn Deere Birkbeck; “A Two Tier approach to WTO decision making” (tạm dịch: Phương pháp tiếp cận hai cấp đối với việc ra quyết định của WTO) của tác giả Thomas Cottier; “WTO decision making: Can we get a little help from the Secretariat and the Critical Mass?” (tạm dịch: Quyết định của WTO: Chúng ta có thể nhận được trợ giúp từ Ban Thư ký và Khối Trọng tài không?) của tác giả Manfred Elsig; “Improvements to the WTO decision making Process: Lessons from the International Monetary fund and the World Bank” (tạm dịch: Cải tiến quy trình ra quyết định của WTO: Bài học từ Quỹ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàng Thế giới) của tác giả Alberto Alvarez-Jiménez; “Internal management of the WTO: Room for improvement” của tác giả Debra Steger and Natalia Shpilkovskaya; “From the periphery to the Centre? The Evolving WTO jurisprudence on Transparency and Good Governance” (tạm dịch: Từ vùng ven đến Trung tâm? Luật pháp đang phát triển của WTO về tính minh bạch và quản trị tốt) của tác giả Padideh Ala’I; “Selective adaptation of WTO 10 điều chỉnh hoạt động của WTO trong đó có cơ chế áp dụng các BPPVTM; các bất cập và hạn chế trong hoạt động ban hành quyết định, hoạt động của Ban Thư ký; việc nội luật hóa các quy định của WTO trong pháp luật của Trung Quốc và Nhật Bản liên quan đến các BPPVTM; hiểu và áp dụng quy định về vấn đề “lợi ích công cộng” trong WTO - kinh nghiệm từ các hiệp định thương mại khu vực. Tuy nhiên, các bài viết này chưa tập trung phân tích những hạn chế, nhược điểm của từng BPPVTM với ý nghĩa là công cụ bảo hộ hợp lý ngành sản xuất trong nước của Canada so với các quy định của WTO.
Tình hình nội luật hóa và áp dụng các quy định của pháp luật về các BPPVTM của VN cũng không được đề cập trong nghiên cứu này. Mặc dù vậy, đây là tài liệu khá hữu ích giúp NCS có cái nhìn đầy đủ hơn, cụ thể hơn khi luận giải, đề xuất các giải pháp nhằm vận dụng và nội luật hóa các quy định của WTO về các BPPVTM vào pháp luật thực định của VN. Nghiên cứu của Wentong Zheng: “Reforming Trade Remedies” 19 (tạm dịch Cải cách biện pháp phòng vệ thương mại) đã đánh giá thực tiễn áp dụng BPCBPG, CTC của các quốc gia thành viên WTO và chỉ ra rằng, trên thực tế, mục tiêu áp dụng hai BPPVTM này không phải để bảo vệ và ngăn chặn sự tổn hại nghiêm trọng của ngành SX trong nước trước sự cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nước ngoài như mục tiêu đề ra của GATT 1947, ADA, SCM mà nhằm hạn chế việc các BPPVTM bị các thành viên của WTO bóp méo hoặc lạm dụng20. Tác giả này cũng đưa ra khuyến nghị các thành viên WTO nên bãi bỏ hai BPCBPG và CTC, chỉ sử dụng BPTV toàn cầu để đối phó với các tình huống khi mà hàng hóa của nước ngoài bị XK trong điều kiện cạnh tranh không lành mạnh.