Chương 1: Tổng quan về đề tài Chương 2: Đạo đức và pháp luật - những công cụ quan trọng trong điều chỉnh quan hệ xã hội Chương 3: Những vấn đề lý luận cơ bản về quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Chương 4: Thực trạng quan hệ giữa pháp luật và đạo đức ở Việt Nam hiện nay Chương 5: Quan điểm, giải pháp kết hợp pháp luật với đạo đức nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh quan hệ xã hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay 14 Chương 2 ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT - NHỮNG CÔNG CỤ QUAN TRỌNG TRONG DIEU CHÍNH QUAN HE XÃ HỘI Đề quản lý các mặt khác nhau của đời sống xã hội, có nhiều công cụ khác nhau như pháp luật, đạo đức, phong tục tập quán, tín điều tôn giáo, lệ làng, hương ước, qui tắc của các cộng đồng dân cư, tổ chức xã hội. Trong đó, pháp luật và đạo đức là những công cụ quan trọng nhất, nó không chỉ điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng, chủ yếu của đời song xã hội ma còn có tác động mạnh mẽ đến cả các công cụ điều chỉnh khác. Dé tìm hiểu mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức, trước hết cần làm sáng tỏ vai trò của từng yếu tô trong đời sống xã hội. Pháp luật và vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội Pháp luật đã xuất hiện và tồn tại trong đời sống xã hội từ hàng nghìn năm, tuy nhiên, qua các thời kỳ lịch sử, do điều kiện, hoàn cảnh, năng lực nhận thức, nhu cầu, mục đích, lợi ích.
khác nhau, nên nhận thức về pháp luật không hoàn toàn thống nhất. Trong lịch sử, trên thế giới đã từng tồn tại nhiều trường phái quan điểm khác nhau về pháp luật như trường phái pháp luật tự nhiên, trường phái pháp luật thực định, trường phái xã hội học pháp luật. Bên cạnh những luận điểm hợp lý, có giá trị, các trường phái này đều chưa thoát khỏi những vướng mắc, hạn chế nhất định. Cũng như ở các nước trên thế giới, ở Việt Nam hiện nay, pháp luật được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Theo nghĩa hẹp, pháp luật thường được hiểu là hệ thống qui tắc xử sự mang tinh bắt buộc chung do nhà nước ban hành dé điều chỉnh các quan hệ xã hội [113, tr. Đây là cách hiểu đã trở thành truyền thống và hết sức phổ biến trong các cơ sở đào tạo, nghiên cứu luật học ở Việt Nam cho đến thời điểm hiện nay. Mở rộng hơn, pháp luật được hiểu là “tong thé các qui tắc xử sự và các nguyên tắc, định hướng, mục đích pháp luật, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyên ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và phản ánh những nhu câu xã hội khách quan, điển hình, phổ biến để diéu chỉnh các quan hệ xã hội trên tat cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ” [102, tr. Nhu vậy, theo những cách hiểu này, pháp luật được hiểu đồng nhất với pháp luật thực định, pháp luật đó là những gì do nhà nước ban hành dé điều chỉnh các quan hệ xã hội, quản lý xã hội.
Tuy nhiên, “pháp luật hiện hành (thực định) chỉ là một phân và thường là xơ cứng; hoạt động của các nhà lập pháp và của thẩm phán cũng là những sự kiện xã hội và an lệ là một bộ phận quan trọng cua pháp luát ” [102, tr. 15 Thiết nghĩ, trong điều kiện ngày nay, nghiên cứu về pháp luật cần phải tiếp cận theo hướng mở, tức là, chắt lọc, kế thừa những hạt nhân hợp lý của tất cả các lý thuyết về pháp luật trong lịch sử. “Can chu trọng pháp luật thực định, pháp luật phải phù hợp lý trí, công bằng, với các quyên tự nhiên của con người, pháp luật phải được kiểm nghiệm từ trong thực tiễn, đồng thời cũng nên luôn hướng tới pháp luật lý tưởng” [92, tr. Nói một cách cụ thé hơn, khi nghiên cứu và tìm hiểu pháp luật, không chỉ đóng khung trong hệ thống pháp luật thực định của nhà nước, mà cần phải “nghiên cứu đánh giá cả dau vào, dau ra, cả pháp luật ở trạng thái tĩnh và trạng thái động của pháp luật” [92, tr.
Bởi 18, “pháp luật ton tại và phát triển trên cả ba lĩnh vực: hệ thống qui phạm pháp luật, tư tưởng pháp luật, ý thức pháp luật và văn hóa pháp luật, thực tiễn pháp luật (trong các hình thức thực hiện pháp luật, các quan hệ pháp luật. Tiếp cận theo cách này, pháp luật được nhìn nhận một cách sống động, từ hiện thực của cuộc song, thong qua hoạt động của nhà lập pháp, pháp luật được hình thành, chúng được thé hiện trong những hình thức xác định, và từ trong những hình thức đó, chúng lại đi vào thực tiễn đời sống thông qua hành vi của con người. Tóm lại, pháp luật cần được nhận thức cả từ góc độ ý thức (ý thức pháp luật), cả từ góc độ thê chế (hệ thống pháp luật thực định), cả từ góc độ thực tiễn (việc thực hiện và áp dụng pháp luật). Mặc dù có thể được quan niệm một cách khác nhau qua các thời đại, các khu vực, các dân tộc, nhưng nhìn chung, pháp luật vẫn luôn được xác định là công cụ không thê thiếu, công cụ quan trọng nhất, có hiệu quả nhất dé điều chỉnh hành vi con người trong các mối quan hệ xã hội, tổ chức và quản lý đời sống xã hội.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac - Lénin, sự ra đời, ton tại của pháp luật trong đời sống xã hội là một tất yếu khách quan. Trong điều kiện mông muội, dã man của xã hội nguyên thủy, người ta tiến hành sản xuất kiếm ăn chung và phân phối bình quân, lợi ích của mọi người là hoàn toàn như nhau, xã hội không có kẻ giàu, người nghèo. Dé quản ly một xã hội có sự đồng nhất về mặt lợi ích như thé, con người đã biết đến đạo đức, phong tục tập quán, các tín điều tôn giáo. Khi xã hội phát triển lên một trình độ cao hơn, chế độ sở hữu tư nhân xuất hiện, xã hội phân hóa thành kẻ giàu, người nghẻo, lợi ích của các thành viên trong xã hội trở nên khác nhau, thậm chí đối lập nhau, sự tranh giành quyền lợi vì thế là một điều khó có thê tránh khỏi.
Xã hội trở thành ban loạn, đạo đức, phong tục tập quán, tín điều tôn giáo. không còn phát huy vai trò giữ gìn 6n định, trật tự xã hội như trước kia. Trong bối cảnh đó, pháp luật với những ưu thế riêng có của nó đã từng bước xuất hiện, đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội. Pháp luật xuất hiện một cách hoàn 16 toàn khách quan, sự ra đời của pháp luật hoàn toàn là một quá trình lịch sử tự nhiên.
Nó ra đời và tồn tại là do yêu cầu, đòi hỏi tự thân của đời sống xã hội, khi xã hội đã vượt qua thời đại mông muội, dã man, bước vao thời đại văn minh. Sự ra đời và tồn tại của pháp luật trong điều kiện đạo đức, phong tục tập quán, các qui phạm xã hội khác vẫn song song tôn tại, điều đó chứng tỏ sự cần thiết của nó đối với đời sống xã hội, chứng tỏ pháp luật là công cụ không thê thiếu [26, tr.7], công cụ quan trọng nhất trong quản lý xã hội. Đặc biệt, trong điều kiện đời sống xã hội ngày càng trở nên phức tạp, các mối quan hệ xã hội ngày càng trở nên đa dạng thì sự tồn tại của pháp luật càng trở nên cần thiết, tất yếu. “Một nhà nước không thể dé một ngày không có pháp luật” [72, tr.159], bởi vì, nêu tình trạng không có pháp luật xảy ra, chắc chắn xã hội sẽ trở thành hỗn loạn.
Với tính cách là công cụ điều chỉnh hành vi con người, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, quản lý xã hội, pháp luật thể hiện những vai trò nồi bật sau đây: Một là, pháp luật là công cụ để thiết lập và tăng cường quyên lực nhà nước, công cụ tổ chức và kiểm soát quyên lực nhà nước. Trước hết, pháp luật tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc cho sự ton tại của nhà nước. Sự hợp pháp tạo ra cho chính quyền một sự “chính danh”, tạo ra thế và lực cho nhà nước, tạo cho nhà nước tư cách và khả năng cai quản xã hội. Sự hợp pháp không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân chính quyền mà còn có ý nghĩa chi phối mạnh mẽ đối với cả những lực lượng chống đối chính quyên, nhiều khi nó còn có khả năng ngăn cản các âm mưu chính biến.
Bởi vì, chính quyền giành được bằng các biện pháp trái pháp luật là không “chính danh”, một khi “danh bat chính” sẽ dẫn đến “ngôn bất thuận”, chính quyền đó khó có thể đủ tư cách cai quản xã hội. Chính vì vậy, ngay từ hàng nghìn năm trước, các chính quyền nhà nước cho dù được tạo nên bằng con đường nao thì sự tồn tại của nó đều cần đến một sự hợp pháp. Trong lời nói đầu của bộ luật mang tên mình, vua Hammurabi đã dõng dạc khăng định: “Than Mácdúc ra lệnh cho trâm thống tri muôn dan” [79, tr. Các vị hoàng dé phong kiến Trung Quốc khi ban hành pháp luật đều viện dẫn đến mệnh trời: “phụng thiên thừa vận”.
Trong điều kiện của xã hội dân chủ, nhà nước là do nhân dân thiết lập ra, “các chính phủ phải được thành lập gôm những người lấy nguôn gốc quyên lực chính đáng của minh từ sự nhất trí của nhân dân”, “thay mặt và được sự uy quyên của những người dân lương thiện” [38, tr.9,14], sự tồn tại và hoạt động của nhà nước phải trên cơ sở và trong khuôn khổ của hiến pháp, văn bản thê hiện tập trung ý chí của nhân dân. Ngày nay, trên thực tế, sau những cuộc đấu tranh giành chính quyên, lực lượng nào giành được chính quyền cũng luôn tìm cách 17 hợp pháp hóa sự tồn tại của chính quyền đó băng cách tổ chức bau cử quốc hội, soạn thảo hiến pháp và tổ chức bộ máy nhà nước trên cơ sở của hiến pháp. Pháp luật là công cu bảo vệ nhà nước trước sự phản kháng, chong đổi của các thế lực thù địch. Theo Lênin, “chính quyền là thiên đường”, vì vậy, các lực lượng không cầm quyền luôn tìm đủ mọi cách hong lật đỗ chính quyền đương thời, giành chính quyên về tay mình.
Sự chống đối ấy có lúc bùng lên một cách dữ dội, có lúc lại âm y chờ thời. Trong điều kiện đó, pháp luật là công cụ sắc bén dé nha nước tự bảo vệ mình.