CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.1 Khái quát về quản lý thuế thu nhập cá nhân.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân. Trong các công trình khoa học pháp lý, việc tiếp cận khái niệm thuế TNCN từ những góc độ khác nhau cho thấy sự chú trọng của các học giả vào quá trình nghiên cứu phát triển đề tài. Căn cứ Luật Quản lý thuế 2019, thuế TNCN được quy định là “số tiền mà tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân bắt buộc phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật về thuế.” Theo OECD “Thuế TNCN được định nghĩa là các loại thuế đánh vào thu nhập ròng và lãi vốn của cá nhân.” Trích Giáo trình Quản lý thuế - Nhà xuất bản Tài chính (2010): “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước do luật pháp quy định đối với các pháp nhân và thế nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp.
Do đó, tại thời điểm nộp thuế, NTT không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem như đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với Nhà nước.” “Thuế TNCN là khoản tiền mà cá nhân phải nộp vào ngân sách NN theo nguyên tắc bắt buộc, không hoàn trả khi phát sinh thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật” (Le Thị Diệu Linh, 2020, p.7) “Thuế thu nhập cá nhân (Personal income tax) là khoản tiền mà người có thu nhập phải trích nộp trong một phần tiền lương, hoặc từ các nguồn thu khác vào NSNN sau khi đã được giảm trừ. Thuế thu nhập cá nhân không đánh vào những cá nhân có thu nhập thấp, do đó, khoản thu này sẽ công bằng với mọi đối tượng trong, góp phần làm giảm khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp trong xã hội” (Nguyễn Công Quốc Dũng, 2022). Như vậy, từ các luận điểm trên có thể nhận định rằng thuế TNCN là một loại thuế trực thu, đánh vào tiền lương, tiền công, thu nhập từ đầu tư, kinh doanh và các loại thu nhập 8 khác của cá nhân. Những người có thu nhập cao phải trả mức thuế cao hơn so với những người có thu nhập thấp để đảm bảo công bằng cho mọi đối tượng cũng như phân phối lại nguồn tài chính của xã hội.2 Khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân.
Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng là lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuộc quản lý hành chính Nhà nước. Vì vậy, để hiểu rõ bản chất khái niệm thế nào là quản lý thuế thu nhập cá nhân, trước hết cần làm rõ khái niệm “quản lý” là gì. - Về khái niệm quản lý: Xuất phát điểm của các ngành khoa học khác nhau thì quan điểm về định nghĩa quản lý sẽ được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau. Theo thuật ngữ pháp lý, “Quản lý được hiểu là sự tác động của chủ thể lên đối tượng theo mục tiêu nhất định.
Điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành hoạt động chung thống nhất của tập thể hướng tới mục tiêu đã định trước”. Nhưng theo cách tiếp cận trong lĩnh vực hành chính, có thể hiểu quản lý là thuật ngữ chỉ “Hoạt động có ý thức của con người nhằm sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra.các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất”. Từ những khái niệm trên, ta có thể hiểu chung “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý để thực hiện được mục tiêu quản lý”. - Về khái niệm quản lý thuế và quản lý thuế thu nhập cá nhân: Quản lý thuế (Tax management) là việc Nhà nước xác lập cơ chế, biện pháp để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của chủ thể nộp thuế, cơ quan thu thuế và các tổ chức cá nhân có liên quan trong quá trình thu, nộp thuế.
Bao gồm cả việc xây dựng chính sách thuế, ban hành pháp luật về thuế, xác định phương pháp và công cụ quản lý hành thu một cách đúng đắn, hiệu quả. Có thể nói, quản lý thuế là quá trình cơ quan quản lý tác động đến NTT nhằm đảm bảo họ chuyển giao nguồn tài chính của mình vào quỹ NSNN thông qua việc thực hiện các thủ tục hành chính thuế. Nội dung quản lý bao gồm: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, không thu thuế; khoản tiền thuế nợ, xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; miễn tiền chậm nộp, tiền phạt, không 9 tính tiền chậm nộp, gia hạn nộp thuế, nộp dần tiền thuế nợ; quản lý thông tin NNT; quản lý hóa đơn, chứng từ; thực hiện các biện pháp phòng chống, ngăn chặn vi phạm pháp luật về thuế,. Từ khái niệm chung, có thể xác định rằng bản chất và cách tiếp cận khái niệm quản lý thuế TNCN cũng giống như khái niệm quản lý thuế.
Quản lý thuế TNCN là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp quản lý tác động lên quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý làm cho chúng vận động theo đúng quỹ đạo mong muốn của các nhà quản lý nhằm đạt được các mục tiêu của quản lý thuế thu nhập cá nhân. Khái quát pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm về pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân Pháp luật về thuế là tập hợp các quy phạm liên quan đến việc thu thuế. Nó bao gồm các công tác về việc xác định, tính toán, nộp và kiểm tra thuế, cũng như quyền và nghĩa vụ của NTT và cơ quan thuế.
Mục tiêu của pháp luật về thuế là đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập trung chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định vào ngân sách nhà nước Ths Tạ Minh Hảo - Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: “Pháp luật quản lý thuế TNCN với tư cách là một bộ phận của pháp luật quản lý thuế, là tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý thuế TNCN của Nhà nước, nhằm đảm bảo tập trung đầy đủ, đúng hạn nguồn thu từ thuế TNCN vào NSNN”. Dù được thiết kế theo nguyên tắc nào, pháp luật quản lý thuế luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách thuế hay luật thuế. Nó không chỉ là luật tổ chức thực hiện các quy định thuế mà còn là bộ khung quyết định về thủ tục và quy trình liên quan đến việc quản lý và thu thuế. Do đó, hiệu quả của chính sách thuế phụ thuộc lớn vào chất lượng của pháp luật quản lý thuế.
Các đạo luật thuế là nền tảng về nội dung, trong khi pháp luật quản lý thuế là hệ thống quy tắc thực hiện những quy định đó. Như vậy có thể rút ra khái niệm pháp luật về quản lý thuế TNCN là tổng hợp các quy phạm pháp luật được Nhà nước để ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý thuế thu nhập cá nhân. Vai trò của pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân 10 Thực hiện pháp luật quản lý thuế TNCN được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích của các cơ quan có th¥m quyền nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật, đưa pháp luật về quản lý thuế TNCN vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể có năng lực hành vi pháp luật. Do đó pháp luật quản lý thuế TNCN (TNCN) đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và duy trì một hệ thống thuế công bằng và minh bạch.
Đầu tiên, pháp luật quản lý thuế TNCN đóng vai trò quy định một cách rõ ràng về nguồn thu nhập và loại thu nhập nào sẽ chịu thuế. Điều này giúp xác định phạm vi của thuế và đảm bảo rằng mọi nguồn thu nhập quan trọng đều được bao gồm, từ lương, doanh nghiệp tự do, đầu tư đến các nguồn thu nhập khác nhau. Tiếp theo, hệ thống bậc thuế và mức thuế là một khía cạnh quan trọng khác của pháp luật. Quy định này không chỉ xác định mức thuế phải đóng cho từng khoản thu nhập, mà còn thiết lập một hệ thống thuế tiến bộ, nơi mức thuế tăng theo cấp độ thu nhập.
Điều này nhằm tạo ra một hệ thống thuế công bằng, trong đó những người có thu nhập cao đóng nhiều hơn, đồng thời giảm gánh nặng đối với những người có thu nhập thấp. Ngoài ra, các quy tắc về giảm thuế là một công cụ mạnh mẽ để thúc đ¥y những hành vi tích cực. Pháp luật thường xuyên đưa ra các quy định về điều kiện giảm thuế, như khuyến khích đầu tư, chi tiêu giáo dục, và hoạt động nhân đạo. Những chính sách này không chỉ thúc đ¥y sự phát triển kinh tế mà còn hỗ trợ các mục tiêu xã hội và môi trường.
Không chỉ thế, pháp luật còn xác định rõ người chịu thuế là ai và có trách nhiệm nộp thuế. Điều này không chỉ giúp xác định nguồn thu nhập mà còn đảm bảo rằng mọi NTT tuân thủ đúng quy định. Các quy tắc về báo cáo và tuân thủ giúp tăng cường minh bạch, giảm rủi ro gian lận thuế, và đảm bảo tính công bằng trong thu thuế. Cuối cùng, pháp luật quản lý thuế TNCN còn định rõ các biện pháp xử lý cho trường hợp vi phạm thuế và cách thu thuế từ những NTT không tuân thủ.
Những biện pháp này không chỉ là để trừng phạt mà còn nhằm mục đích đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình thu thuế.3 Nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân 11 Luật Thuế TNCN được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 21/11/2007 và Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 13/2007/L-CTN ngày 5/12/2007. Luật Thuế TNCN gồm 4 chương, 35 điều quy định về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế và căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.