CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ Ô NHIỄM TIẾNG ỒN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN 1. Khái quát về tiếng ồn và ô nhiễm tiếng ồn 1. Khái niệm về tiếng ồn, ô nhiễm tiếng ồn * Khái niệm tiếng ồn Tiếng ồn là một thuật ngữ vô cùng quen thuộc.
Dưới nhiều góc nhìn khác nhau, định nghĩa về tiếng ồn còn chưa rõ ràng. Trong từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam không có định nghĩa cụ thể về tiếng ồn. Thuật ngữ này được giải thích riêng như sau: “tiếng là một danh từ mang nghĩa là cái mà tai có thể nghe được; ồn là một tính từ mang nghĩa có nhiều âm thanh, tiếng động lẫn lộn làm cho khó nghe, khó chịu”2. Như vậy, hiểu đơn giản “tiếng ồn” là âm thanh mà tai có thể nghe được và mang lại cảm giác khó chịu cho người nghe.
Ngoài ra, thuật ngữ tiếng ồn còn có những định nghĩa khác như: “Là những âm thanh không mong muốn, gây khó chịu cho người nghe. Hai đặc tính quan trọng của âm thanh hay tiếng ồn tác động đến con người là cường độ âm thanh (dB) và tần số âm thanh (Hz)”3 hay “Là tập hợp những âm thanh tạp loạn với các tần số và cường độ âm khác nhau gây cảm giác khó chịu cho người nghe”4. Dưới góc độ pháp lý, pháp luật Việt Nam đã đưa ra khái niệm cụ thể về tiếng ồn tại Thông tư 68/2014/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải ngày 13/11/2014 ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kiểm soát tiếng ồn trên tàu biển: “Tiếng ồn là tất cả các âm thanh có thể làm tổn hại đến khả năng nghe hoặc gây hại cho sức khỏe hoặc gây các nguy hiểm hoặc sao nhãng khác”5. Qua những phân tích trên, nhận thấy định nghĩa về tiếng ồn dưới những góc độ khác nhau có những điểm chung: là âm thanh gây khó chịu cho người nghe và 2 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.
3 Nguồn: http://vanhoathongtin.vn/tin-tuc-su-kien/van-nan-tieng-on-va- hanh-dong-cua-chung-ta-cmobile363-10452.aspx ,truy cập vào lúc 8:30, ngày 01/02/2023. 4 Nguyễn Lưu Lan Phương (2018), Pháp luật liên minh châu Âu và một số nước ở châu Âu về kiểm soát nguồn ồn giao thông - bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 36/2018, tr. 5 Điểm 10 khoản 2 Điều 1.2 Phần I Thông tư 68/2014/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải ngày 13/11/2014 ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kiểm soát tiếng ồn trên tàu biển. 7 làm tổn hại đến khả năng nghe hoặc gây hại cho sức khỏe.
Từ đó, nhóm tác giả đưa ra định nghĩa về tiếng ồn như sau: “Tiếng ồn là tạp âm, tồn tại dưới dạng âm thanh có nhiều tần số và cường độ khác nhau. Gây sự khó chịu cho người nghe và có sự ảnh hưởng nhất định đến sức khỏe và cuộc sống sinh hoạt chung của con người”. * Khái niệm ô nhiễm tiếng ồn Hiện nay, có một số quan điểm cho rằng ONTO thuộc vào loại ô nhiễm không khí. Góc độ này được lý giải theo nghĩa rộng của ô nhiễm không khí.
Cách hiểu này tiếp cận từ phân chia ô nhiễm môi trường theo đặc tính vật lý, theo đó môi trường sống phân loại thành ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm môi trường đất, ô nhiễm môi trường nước. Ô nhiễm không khí là sự ô nhiễm trong không gian ở thể khí xung quanh chúng ta, bao gồm: ô nhiễm khí, ô nhiễm bụi, ONTO, ô nhiễm ánh sáng, ô nhiễm bức xạ, ô nhiễm mùi, ô nhiễm khói, ô nhiễm chì,…6 Ở góc nhìn khác, không khí là hỗn hợp các loại khí (Nito 78,9%; Oxi 0,95%, Co2 0,32%…). Vậy, ô nhiễm không khí là sự thay đổi tính chất không khí, tình trạng xuất hiện các chất lạ độc hại hoặc có sự biến đổi lớn trong thành phần không khí làm ảnh hưởng bất lợi đến đời sống con người, động thực vật7. Theo nhóm tác giả, ONTO và ô nhiễm không khí là hai loại ô nhiễm khác nhau, có sự độc lập tương đối.
Vậy thế nào là ONTO? Trong từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, không có định nghĩa cụ thể thế nào là ONTO. Tuy nhiên, có định nghĩa về ô nhiễm, theo đó: “ô nhiễm là nhiễm bẩn tới mức có thể gây độc hại8”. Thuật ngữ “ô nhiễm tiếng ồn” là một thuật ngữ được định nghĩa dưới nhiều góc nhìn khác nhau: “Là tiếng ồn trong môi trường vượt quá ngưỡng nhất định gây khó chịu cho người và động vật”9 hay một công trình nghiên cứu có đưa ra định nghĩa “Ô nhiễm tiếng ồn là hiện tượng tiếng ồn được phát tán vượt mức giới hạn cho phép 6 Bùi Đức Hiển (2017), Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, tr.
7 Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Luật Môi trường, Nxb. Công an nhân dân Hà Nội, tr. 8 của các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường trong một thời gian nhất định đủ để gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường xung quanh”10. Dưới góc độ pháp lý, pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có quy định cụ thể về khái niệm “ô nhiễm tiếng ồn”.
Có thể nhìn nhận ONTO là một hình thức tồn tại của ô nhiễm môi trường. Luật BVMT năm 2020 quy định: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên”11. Từ những phân tích về định nghĩa ONTO và định nghĩa ô nhiễm môi trường, theo nhóm tác giả ONTO được định nghĩa như sau: “Ô nhiễm tiếng ồn là hiện tượng âm thanh từ các nguồn phát vượt quá ngưỡng cho phép và không phù hợp với các tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường có tác động xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và môi trường sống”. Nguyên nhân gây ô nhiễm tiếng ồn Tiếng ồn là một “kẻ giết người chậm chạp”, là một “sát thủ thầm lặng” len lỏi vào cuộc sống.
ONTO có mặt ở khắp mọi nơi nhưng tập trung nhất và có xu hướng trở nên nghiêm trọng vẫn là ở các đô thị. Trải qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, nhóm tác giả chia nguyên nhân gây ONTO gồm: nguyên nhân tự nhiên và nguyên nhân xuất phát từ hoạt động của con người. * Nguyên nhân tự nhiên Tiếng ồn từ các hoạt động tự nhiên là tiếng ồn không phải do con người tạo ra hay tác động vào và thông thường xuất hiện từ các hoạt động: núi lửa, động đất, sạt lở, mưa giông,. Tiếng ồn xuất phát từ những hoạt động tự nhiên mang những đặc thù nhất định, diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định, không thường xuyên, tuy nhiên nó vẫn gây ra những tiếng động rất lớn và góp phần tác động đến tần số âm thanh bình thường của khu vực.
Tình trạng gây ra tiếng ồn đối với hiện tượng động đất, mưa giông,… ở Việt 10 Nguyễn Hoàng Long (2022), Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn, Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 11 Khoản 12 Điều 3 Luật BVMT năm 2020. 9 Nam diễn ra với cường độ thấp nên mức độ gây ra ONTO không cao, cụ thể vào năm 2018 tại tỉnh Quảng Nam đã xảy ra một trận động đất có độ lớn 2. Nhưng tại một số quốc gia trên thế giới, động đất diễn ra thường xuyên với cường độ cao, mức độ gây ONTO lớn, cụ thể vào ngày 1/9/1923 tại Tokyo và Yokohama đã xảy ra một trận động đất với độ lớn 7.9 độ richter, trận động đất này đã gây ra một tiếng nổ lớn, rung chuyển hai thành phố.
* Nguyên nhân xuất phát từ hoạt động con người Theo nghiên cứu, các nguyên nhân gây ra tiếng ồn đến từ hoạt động của con người bao gồm: nguồn từ giao thông vận tải; nguồn từ hoạt động xây dựng, sản xuất, kinh doanh và nguồn từ sinh hoạt hằng ngày của con người. Thứ nhất, nguồn giao thông vận tải Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, phương tiện giao thông ngày càng tăng nhanh, từ đó ONTO từ hoạt động giao thông ngày càng lớn đến mức báo động, cần phải có sự chú ý. Tiếng ồn của ngành giao thông đường bộ là một trong những nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân ở Châu Âu13. Ở tốc độ trên 60km/h đối với xe hạng nhẹ được xem là nguồn gây ra tiếng ồn bởi sự tiếp xúc giữa lốp xe và mặt đường.
Điều này được đánh giá là nguồn gây ONTO do giao thông đường bộ. Không dừng lại ở đó, chúng ta đã quá quen thuộc với hình ảnh kẹt xe hàng chục km, hàng tiếng đồng hồ và tiếng động cơ, tiếng còi xe inh ỏi kéo dài trong khoảng thời gian dài đó cũng chính là nguyên nhân gây ra ONTO. Bên cạnh đó, tiếng ồn từ tàu hỏa và máy bay cũng có sự tác động nhất định. Đối với tiếng ồn từ tàu hoả, nó có tác động trực tiếp đến sự sinh sống của những hộ gia đình sống hai bên đường ray tàu.
Tàu hoả là phương tiện giao thông di chuyển nhờ trên sự ma sát, va đập giữa bánh xe với đường ray, và vì vậy mà tiếng ồn chúng gây ra cũng không hề nhỏ, đi cùng với đó là tiếng ồn của động cơ. Hằng ngày, có hằng trăm chuyến tàu đi qua một đường ray, vì vậy có thể nói rằng tiếng ồn của tàu 12 Tuấn Anh, Những tỉnh nào ở nước ta hay xảy ra động đất?, Tạp chí của ban Tuyên giáo Trung ương, truy cập tại https://tuyengiao.vn/chung-suc-phong-chong-thien-tai/nhung-tinh-nao-o-nuoc-ta- hay-xay-ra-dong-dat-126074, truy cập vào lúc 10:00, ngày 23/3/2023. 13 Hồng Điển (2018), Tiếng ồn giao thông – Nguồn ô nhiễm âm thanh lớn nhất ở châu Âu, Tạp chí Môi trường, số 03/2018, tr. 10 hoả chính là sự ác mộng với những người dân sống xung quanh đường ray.
Theo kết quả nghiên cứu của trường Đại học Khoa học thuộc Đại học Huế thì mức ồn trong một phút có tàu đi qua trong khu vực nghiên cứu dao động từ 55-70 dBA. Đối với các điểm cách 5m so với đường ray thì mức ồn đều vượt quá tiêu chuẩn Việt Nam 5949- 198814. Theo các nghiên cứu, các đoàn tàu có thể phát ra tiếng ồn ở mức ngất ngưởng 110 dBA - tương đương với tiếng ồn tạo ra bởi một máy cưa xích hoạt động hết công suất trong phạm vi 1m. Chung sống với tiếng ồn như thế này không chỉ gây ra sự khó chịu mà còn có những ảnh hưởng đáng lo ngại đến sức khoẻ15.
Đối với tiếng ồn từ hoạt động của máy bay cũng là một nguyên nhân cần chú ý trong hoạt động giao thông vận tải.