Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong những phương thức đầu tư trực tiếp và gián tiếp nhằm gia tăng năng lực tài chính, đa dạng hóa danh mục tài sản, phân tán rủi ro kinh doanh và tối ưu hóa nguồn vốn tự có. Trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam phát triển nhanh chóng cùng áp lực cạnh tranh gay gắt, các NHTM không chỉ thực hiện các nghiệp vụ tín dụng truyền thống mà còn mở rộng đầu tư vào các định chế tài chính, doanh nghiệp phụ trợ thông qua việc mua cổ phần, thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết.

Tuy nhiên, do NHTM là loại hình doanh nghiệp đặc thù hoạt động chủ yếu bằng nguồn vốn huy động từ xã hội, việc mở rộng đầu tư vốn tiềm ẩn rủi ro hệ thống, rủi ro thanh khoản, nguy cơ xung đột lợi ích và hiện tượng sở hữu chéo phức tạp. Khung pháp lý hiện hành, trọng tâm là Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) và các văn bản hướng dẫn, đã thiết lập hành lang pháp lý nhất định nhưng vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: quy định mơ hồ về "lĩnh vực khác" được phép góp vốn, thiếu vắng cơ chế điều chỉnh mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng, và thẩm quyền thanh tra, giám sát giữa các cơ quan quản lý nhà nước còn hiện tượng phân tán, chồng chéo. Từ yêu cầu lý luận và thực tiễn đó, tác giả Đỗ Minh Khánh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Kinh tế với đề tài: "Pháp luật về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại tại Việt Nam".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm bốn nội dung:

  1. Nghiên cứu và làm rõ các vấn đề lý luận về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM và pháp luật điều chỉnh hoạt động này.
  2. Phân tích các nguyên tắc và nội dung pháp lý cơ bản điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM.
  3. Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM (về cách thức thực hiện, điều kiện và giới hạn, trình tự thủ tục, quản lý nhà nước và xử lý vi phạm), đồng thời đối chiếu với thực tiễn áp dụng và kinh nghiệm quốc tế.
  4. Đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM (Luật Các TCTD, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán và các văn bản dưới luật) kết hợp với thực tiễn triển khai tại các NHTM Việt Nam thông qua các báo cáo tài chính, số liệu tổng hợp thị trường.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật và số liệu thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay (thời điểm Luật Các TCTD năm 2024 được ban hành).
  • Phạm vi không gian: Khung pháp lý và thị trường NHTM tại Việt Nam, có nghiên cứu đối chiếu kinh nghiệm tại Singapore, Thái Lan, Nhật Bản, Đức và Trung Quốc.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hoạt động góp vốn, mua cổ phần vì mục tiêu lợi nhuận trên bốn phương diện: cách thức thực hiện; điều kiện và giới hạn; trình tự, thủ tục; quản lý nhà nước và xử lý vi phạm. Đề tài không đi sâu vào hình thức góp vốn qua quỹ đầu tư, ủy thác đầu tư (do tuân theo chế định pháp lý riêng về ủy thác) và không phân tích hình thức góp vốn, mua cổ phần đối với TCTD bị kiểm soát đặc biệt (vì mang tính chất tái cơ cấu bắt buộc, phi lợi nhuận).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý cốt lõi:

  • Góp vốn: Việc nhà đầu tư đưa tài sản vào tổ chức kinh tế để hình thành hoặc gia tăng vốn điều lệ của tổ chức kinh tế đó.
  • Mua cổ phần: Giao dịch nhà đầu tư mua lại phần vốn góp hoặc cổ phần từ các thành viên, cổ đông hiện hữu của tổ chức kinh tế, bản chất không làm thay đổi quy mô vốn điều lệ của tổ chức kinh tế tiếp nhận.
  • Hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM: Được chuẩn hóa dựa trên Khoản 24 Điều 4 Luật Các TCTD năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Khoản 16 Điều 14 Luật Các TCTD năm 2024. Theo đó, đây là việc NHTM trực tiếp hoặc gián tiếp bỏ vốn, tài sản để tạo lập vốn điều lệ hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp, TCTD khác thông qua các hình thức: thành lập/mua lại công ty con, công ty liên kết; góp vốn, mua cổ phần thông thường dưới mức quy định; góp vốn vào quỹ đầu tư hoặc ủy thác đầu tư nhằm mục tiêu sinh lời.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả sử dụng làm căn cứ đối chiếu gồm:

  • Luật Các TCTD năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD năm 2017, Luật Các TCTD năm 2024.
  • Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Đầu tư năm 2020, Luật Chứng khoán năm 2019.
  • Nghị định 93/2017/NĐ-CP về chế độ tài chính đối với TCTD; Nghị định 88/2019/NĐ-CP và Nghị định 143/2021/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
  • Thông tư 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng; Thông tư 51/2018/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của TCTD; Thông tư 30/2014/TT-NHNN và Thông tư 14/2016/TT-NHNN về hoạt động ủy thác.
  • Pháp luật quốc tế: Đạo luật Ngân hàng Singapore năm 1970 (sửa đổi 2008), Luật Các định chế kinh doanh tài chính Thái Lan năm 2008, Đạo luật Ngân hàng Liên bang Đức năm 1998, Luật NHTM Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 3 để làm rõ bản chất kinh tế - pháp lý của hoạt động đầu tư vốn, hệ thống hóa các nguyên tắc quản lý và luận giải các giải pháp hoàn thiện.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập và xử lý số liệu báo cáo tài chính giai đoạn 2018–2023 của các NHTM Việt Nam (BIDV, Vietcombank, VietinBank, Agribank, MB Bank, SeABank, Techcombank, Sacombank...), số liệu báo cáo của Kiểm toán Nhà nước.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực pháp lý của Singapore, Đức, Thái Lan, Trung Quốc về tỷ lệ giới hạn sở hữu, phạm vi hoạt động và cơ quan giám sát tài chính.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm hệ thống văn bản pháp luật thực định, báo cáo tài chính đã kiểm toán, báo cáo thường niên của các NHTM, báo cáo chuyên đề của Kiểm toán Nhà nước, các công trình nghiên cứu khoa học của các chuyên gia đầu ngành (TS. Nguyễn Thị Thanh Tú, TS. Nguyễn Kiên Bích Tuyên, ThS. Vũ Thành Tự Anh...).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại và pháp luật về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Chương 1 thiết lập khung lý luận toàn diện về hoạt động đầu tư vốn của NHTM, xác định bốn đặc điểm pháp lý mang tính đặc thù:

  • Chứa đựng rủi ro tiềm ẩn: Ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn thanh khoản, rủi ro lan truyền toàn hệ thống, tạo nguy cơ sở hữu chéo và xung đột lợi ích kinh tế (ví dụ: ưu đãi cấp tín dụng cho doanh nghiệp có vốn góp).
  • Nguồn vốn sử dụng bị giới hạn: Pháp luật bắt buộc NHTM chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để đầu tư vốn, tuyệt đối không được dùng vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng.
  • Bị khống chế về tỷ lệ vốn góp: Giới hạn tỷ lệ sở hữu tại từng doanh nghiệp và tổng mức đầu tư trên vốn tự có nhằm phân tán rủi ro và ngăn ngừa lạm quyền chi phối ngoài ngành.
  • Chịu sự quản lý, giám sát nghiêm ngặt từ Nhà nước: Hoạt động đầu tư chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các cơ quan giám sát chuyên ngành.

Chương này cũng phân tích vai trò của hoạt động góp vốn, mua cổ phần trên ba giác độ: tạo nguồn thu ngoài lãi bền vững cho NHTM; hỗ trợ vốn và năng lực quản trị cho doanh nghiệp tiếp nhận; thúc đẩy luân chuyển vốn hiệu quả trong nền kinh tế. Đồng thời, tác giả phân định cấu trúc pháp luật điều chỉnh thành bốn nhóm quy định: (i) cách thức thực hiện; (ii) điều kiện và giới hạn; (iii) trình tự, thủ tục; (iv) quản lý nhà nước và xử lý vi phạm.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Chương 2 phân tích chuyên sâu thực trạng pháp luật thực định và đánh giá hiệu quả áp dụng trên thực tế theo từng nhóm nội dung:

1. Về cách thức thực hiện và phân định lĩnh vực đầu tư: Pháp luật phân tách rõ hai cơ chế đầu tư theo Khoản 2 và Khoản 3 Điều 103 Luật Các TCTD năm 2010:

  • Nhóm bắt buộc phải thành lập/mua lại công ty con, công ty liên kết: Các lĩnh vực rủi ro cao gồm chứng khoán, bảo hiểm, cho thuê tài chính (quy phạm mang tính nghĩa vụ, nhằm tách biệt rủi ro với ngân hàng mẹ).
  • Nhóm được phép thành lập/mua lại công ty con, công ty liên kết hoặc góp vốn trực tiếp: Quản lý nợ và khai thác tài sản, kiều hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, trung gian thanh toán, thông tin tín dụng. Riêng lĩnh vực ngoại hối, Luật Các TCTD năm 2024 đã bãi bỏ quy định bắt buộc lập công ty con, cho phép NHTM tự thực hiện trực tiếp.

Thực tiễn phát triển mạng lưới công ty con, công ty liên kết tại các NHTM quy mô lớn được tác giả thống kê như sau:

Tên Ngân hàng Thương mại Số lượng Công ty con (2023) Số lượng Công ty liên kết (2023) Lĩnh vực hoạt động chủ yếu
BIDV 10 5 Chứng khoán, bảo hiểm, cho thuê tài chính
VietinBank 8 (nắm 100% tại 6 đơn vị) Đang cập nhật Cho thuê tài chính, chứng khoán, bảo hiểm
Vietcombank 7 4 Chứng khoán, kiều hối, quản lý quỹ, bảo hiểm
Agribank 3 2 Chứng khoán, bảo hiểm, dịch vụ phụ trợ

Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo tài chính và Báo cáo thường niên năm 2023 của các ngân hàng.

Hiệu quả tài chính từ các công ty con trực thuộc MB Bank trong năm 2018: MB AMC đạt lợi nhuận 215 tỷ đồng (tăng 224%); MB Capital đạt 61 tỷ đồng (tăng 20%); Chứng khoán MBS đạt 202 tỷ đồng (tăng 800%); Bảo hiểm Quân đội (MIC) đạt 135 tỷ đồng; Mcredit đạt 320 tỷ đồng; riêng MB Ageas ghi nhận lỗ 319 tỷ đồng do giai đoạn đầu mở rộng.

2. Về điều kiện và giới hạn góp vốn, mua cổ phần:

  • Điều kiện tài chính và an toàn: Theo Thông tư 51/2018/TT-NHNN và Thông tư 22/2019/TT-NHNN, NHTM phải bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), giá trị thực của vốn điều lệ không thấp hơn vốn pháp định, tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, hoạt động kinh doanh năm liền kề có lãi và không bị xử phạt vi phạm hành chính trong 12 tháng trước thời điểm đề nghị.
  • Điều kiện chuyển nợ xấu thành vốn góp: Áp dụng theo Khoản 5 Điều 4 Thông tư 51/2018/TT-NHNN, chỉ áp dụng đối với các khoản nợ được phân loại là nợ xấu theo quy định nhằm mục đích xử lý, thu hồi nợ (điển hình như trường hợp SHB tham gia tái cơ cấu Bianfishco hoặc VietinBank với Vinalines).
  • Các giới hạn luật định:
    • Mức góp vốn, mua cổ phần tại một doanh nghiệp: không vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhận vốn (Khoản 1 Điều 129 Luật Các TCTD năm 2017).
    • Mức sở hữu tại một TCTD khác: dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết; NHTM chỉ được mua, nắm giữ cổ phiếu tối đa tại không quá 02 TCTD khác (Điểm b Khoản 3 Điều 19 Thông tư 22/2019/TT-NHNN).
    • Tổng mức góp vốn, mua cổ phần vào tất cả doanh nghiệp, TCTD: không vượt quá 40% vốn điều lệ và các quỹ dự trữ của NHTM (Khoản 2 Điều 129 Luật Các TCTD năm 2017).
    • Quy định cấm góp vốn: Cấm TCTD góp vốn vào doanh nghiệp/TCTD là cổ đông của chính mình; Luật Các TCTD năm 2024 (Điều 137) bổ sung thêm quy định cấm công ty con của TCTD góp vốn vào cổ đông của TCTD đó hoặc người có liên quan của cổ đông nhằm ngăn chặn triệt để hành vi lách luật sở hữu chéo.

So sánh giới hạn tỷ lệ đầu tư vốn cổ phần của ngân hàng thương mại giữa các quốc gia:

Quốc gia Giới hạn tại một doanh nghiệp riêng lẻ Tổng giới hạn đầu tư trên vốn tự có
Việt Nam Tối đa 11% vốn điều lệ doanh nghiệp Tối đa 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ
Singapore Tối đa 2% tổng vốn NHTM (hoặc <10% quyền biểu quyết) Theo phê duyệt của Cơ quan Tiền tệ (MAS)
Đức Tối đa 15% vốn điều lệ doanh nghiệp Tổng danh mục không quá 60% vốn tự có

Nguồn: Tổng hợp từ Luật Ngân hàng các nước và Luật Các TCTD Việt Nam.

Bên cạnh những kết quả đạt được, tác giả chỉ ra các hạn chế lớn trong thực thi:

  • Chất lượng số liệu nợ xấu: Theo kết luận của Kiểm toán Nhà nước chuyên đề cơ cấu lại TCTD giai đoạn 2016–2020, nhiều ngân hàng báo cáo nợ xấu dưới 3% nhưng số liệu thực tế đã vượt trần (nợ xấu thực tế tại Sacombank thời điểm cuối 2020 là 8,41%, một NHTMCP khác lên tới 13,4%).
  • Đầu tư dàn trải và sở hữu chéo: Một số NHTM đầu tư dài hạn vào quá nhiều doanh nghiệp (SeABank góp vốn vào 10 đơn vị, Vietcombank 7 đơn vị, Techcombank 5 đơn vị); Kiểm toán Nhà nước chỉ ra 05 TCTD (gồm MSB, Vietcombank, CBBank, OceanBank, Agribank) từng nắm giữ cổ phần vượt quá giới hạn 02 TCTD khác.

3. Về trình tự, thủ tục và quản lý nhà nước: Thủ tục hành chính gồm hai bước bắt buộc: xin văn bản chấp thuận của NHNN (theo Điều 6 Thông tư 51/2018/TT-NHNN) và đăng ký kinh doanh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư. Luật Các TCTD năm 2024 đã cải cách thủ tục theo hướng bãi bỏ việc chấp thuận từng lần đối với việc tăng vốn công ty con/liên kết, giao Thống đốc NHNN ban hành tiêu chuẩn điều kiện cụ thể. Về quản lý nhà nước, Luật năm 2024 bổ sung rõ nét trách nhiệm của Bộ Tài chính trong quản lý các hoạt động đại lý bảo hiểm và chứng khoán của công ty con thuộc TCTD.

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ các định hướng cơ bản: bảo đảm tính đồng bộ với Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư; bảo đảm quyền tự do kinh doanh nhưng gắn liền với an toàn hệ thống; tăng cường minh bạch hóa cơ cấu sở hữu; và nâng cao năng lực giám sát tài chính.

Các giải pháp cụ thể được phân thành hai nhóm:

  • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    • Sửa đổi, chuẩn hóa khái niệm "lĩnh vực khác" mà NHTM được phép góp vốn theo phương pháp liệt kê mở hoặc ban hành tiêu chí định lượng rõ ràng.
    • Xây dựng khung pháp lý riêng điều chỉnh mô hình "Tập đoàn tài chính – ngân hàng" để kiểm soát dòng vốn luân chuyển nội bộ và quản trị rủi ro tập trung.
    • Quy định phân hóa điều kiện góp vốn theo quy mô vốn và năng lực quản trị rủi ro của từng nhóm NHTM (thay vì áp dụng cào bằng).
    • Nâng cao mức phạt tiền và tăng cường chế tài phi tài chính trong Nghị định 88/2019/NĐ-CP đối với các hành vi cố tình che giấu sở hữu chéo hoặc ủy thác đầu tư sai quy định.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
    • Thống nhất đầu mối thanh tra, giám sát giữa Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng (NHNN), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Bộ Tài chính.
    • Ứng dụng công nghệ giám sát dữ liệu thời gian thực để kiểm tra tính chính xác của các chỉ số an toàn vốn và tỷ lệ nợ xấu tại các TCTD.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và lượng hóa được bức tranh thực trạng pháp lý và thực tiễn hoạt động góp vốn, mua cổ phần của hệ thống NHTM Việt Nam:

  • Xác định đầy đủ căn cứ pháp lý và cơ chế phân loại các hình thức đầu tư vốn của NHTM theo quy định của Luật Các TCTD năm 2010, sửa đổi 2017 và các điểm mới mang tính nền tảng của Luật Các TCTD năm 2024.
  • Cung cấp dữ liệu chi tiết về cơ cấu đầu tư công ty con, công ty liên kết của các ngân hàng thương mại lớn tại Việt Nam (BIDV với 10 công ty con; VietinBank với 8 công ty con; Vietcombank với 7 công ty con; Agribank với 3 công ty con) và phân tích hiệu quả lợi nhuận qua mô hình thực tế tại MB Bank năm 2018.
  • Nhận diện chính xác các hạn chế pháp lý từ thực tiễn kiểm toán: tình trạng sai lệch số liệu nợ xấu thực tế vượt ngưỡng 3% (điển hình tại Sacombank và một số NHTMCP), hiện tượng 05 TCTD vi phạm giới hạn nắm giữ cổ phần tại hơn 02 TCTD khác, và các sơ hở trong việc lách luật sở hữu chéo thông qua công ty liên kết hoặc ủy thác đầu tư.
  • Về mặt học thuật và thực tiễn, đề tài đóng góp một công trình nghiên cứu chuyên sâu, đối chiếu đa chiều giữa pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế (Singapore, Đức, Thái Lan, Trung Quốc), đồng thời đưa ra các giải pháp sửa đổi luật mang tính đón đầu hiệu lực thi hành của Luật Các TCTD năm 2024.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận xác định rõ phạm vi và những điểm giới hạn nghiên cứu:

  • Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động góp vốn, mua cổ phần phục vụ mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận thương mại; không đi sâu vào phân tích nghiệp vụ góp vốn qua quỹ đầu tư hoặc ủy thác đầu tư (do chịu sự điều chỉnh của pháp luật ủy thác).
  • Khóa luận không nghiên cứu cơ chế mua nhận chuyển giao bắt buộc hoặc góp vốn vào các TCTD thuộc diện kiểm soát đặc biệt theo phương án tái cơ cấu của Chính phủ.
  • Về mặt thời điểm, do Luật Các TCTD năm 2024 mới được Quốc hội thông qua ngày 18/01/2024 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2024, hệ thống thông tư hướng dẫn mới thay thế cho Thông tư 22/2019/TT-NHNN và Thông tư 51/2018/TT-NHNN chưa được ban hành đầy đủ tại thời điểm hoàn thành nghiên cứu. Đây là cơ sở để các nghiên cứu tiếp theo đi sâu đánh giá tác động thực thi của các văn bản dưới luật mới đối với thị trường ngân hàng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo thiết thực:

  • Đối với người học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính – Ngân hàng: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo có cấu trúc lý luận chuẩn mực, cung cấp góc nhìn so sánh luật học quốc tế phong phú và phương pháp tiếp cận thực chứng kết hợp văn bản pháp luật với số liệu báo cáo tài chính.
  • Đối với cán bộ pháp chế tại các NHTM: Nội dung Chương 2 cung cấp hệ thống điều kiện, tỷ lệ an toàn, thủ tục xin chấp thuận của NHNN và các trường hợp cấm góp vốn, hỗ trợ trực tiếp cho công tác thẩm định pháp lý các thương vụ mua bán, sáp nhập, thành lập công ty con hoặc chuyển nợ xấu thành vốn góp.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Các đề xuất tại Chương 3 liên quan đến kiểm soát sở hữu chéo, chuẩn hóa định nghĩa lĩnh vực đầu tư và phân định thẩm quyền giữa NHNN với Bộ Tài chính cung cấp thêm luận cứ thực tiễn cho quá trình xây dựng các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Các TCTD năm 2024.

Câu hỏi thường gặp

1. Pháp luật hiện hành quy định NHTM chỉ được sử dụng nguồn vốn nào để thực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần?
Căn cứ Khoản 1 Điều 103 Luật Các TCTD năm 2010 và Khoản 1 Điều 111 Luật Các TCTD năm 2024, NHTM chỉ được sử dụng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và các TCTD khác. Pháp luật nghiêm cấm việc sử dụng nguồn vốn huy động (tiền gửi của khách hàng) để thực hiện hoạt động này nhằm bảo đảm an toàn thanh khoản và bảo vệ quyền lợi người gửi tiền.

2. Các lĩnh vực kinh doanh nào bắt buộc NHTM phải thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết thay vì trực tiếp thực hiện?
Theo Khoản 2 Điều 103 Luật Các TCTD năm 2010, NHTM bắt buộc phải thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết độc lập khi tham gia hoạt động kinh doanh trong ba lĩnh vực có độ rủi ro cao gồm: bảo hiểm, chứng khoán và cho thuê tài chính. Việc này nhằm cách ly rủi ro chuyên ngành khỏi hoạt động nhận tiền gửi của ngân hàng mẹ.

3. Giới hạn tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của NHTM tại một doanh nghiệp và tổng mức đầu tư được quy định ra sao?
Theo Điều 129 Luật Các TCTD năm 2017 và Điều 137 Luật Các TCTD năm 2024: mức góp vốn, mua cổ phần của một NHTM và công ty con, công ty liên kết của ngân hàng đó vào một doanh nghiệp không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhận vốn; mức nắm giữ tại một TCTD khác không quá 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết và tối đa không quá 02 TCTD; tổng mức góp vốn, mua cổ phần vào tất cả các doanh nghiệp, TCTD không được vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của chính NHTM đó.

4. Điểm mới quan trọng của Luật Các TCTD năm 2024 trong việc kiểm soát sở hữu chéo qua hoạt động góp vốn, mua cổ phần là gì?
Luật Các TCTD năm 2024 (Khoản 5 Điều 137) đã bổ sung quy định nghiêm cấm: (i) công ty con của TCTD góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, TCTD là cổ đông/thành viên góp vốn của chính TCTD đó; và (ii) TCTD cùng công ty con của TCTD không được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp/TCTD là người có liên quan của cổ đông, thành viên góp vốn của TCTD. Quy định này bịt lỗ hổng lách luật sở hữu chéo qua các pháp nhân trung gian.

5. Điều kiện pháp lý để NHTM được thực hiện việc chuyển nợ xấu thành vốn góp cổ phần là gì?
Theo Khoản 5 Điều 4 Thông tư 51/2018/TT-NHNN, NHTM phải đáp ứng các điều kiện: giấy phép thành lập có nội dung hoạt động góp vốn, mua cổ phần; bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và tỷ lệ góp vốn trong 12 tháng; vốn điều lệ thực không thấp hơn mức pháp định; kinh doanh năm liền kề có lãi; không bị xử phạt vi phạm hành chính về phân loại nợ, trích lập dự phòng và đầu tư vốn trong 12 tháng trước đó; và khoản nợ được chuyển đổi bắt buộc phải là nợ xấu với mục đích xử lý, thu hồi nợ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Minh Khánh đã nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận, các quy định pháp luật thực định và thực tiễn hoạt động góp vốn, mua cổ phần của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Công trình phân tích sâu sắc các hạn chế cốt lõi về kiểm soát sở hữu chéo, tình trạng đầu tư dàn trải và sự sai lệch trong việc xác định các chỉ số an toàn tài chính tại các ngân hàng thương mại. Trên cơ sở đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và bối cảnh ban hành Luật Các TCTD năm 2024, khóa luận đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về hoàn thiện quy phạm pháp luật và nâng cao năng lực giám sát chuyên ngành nhằm bảo đảm sự an toàn, minh bạch cho toàn bộ hệ thống tài chính - ngân hàng.