Chương I1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về rủi ro trả nợ 2.1 Khái niệm rủi ro trả nợ Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tinh trang bất ôn. Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro. Chỉ có những tình trạng không chắc chắn nảo có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro. Những tinh trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không thể ước đoán được xác suất xảy ra thì được xem là sự bất trắc chứ không phải là rủi ro.
Theo Hiệp ước Basel (1988), Rủi ro trả nợ là rủi ro đo tính không chắc chắn về khả năng hay sự sẵn sàng của đối tác trong việc đáp ứng các nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng. Theo Lê Văn Tư (2005), rủi ro trả nợ được định nghĩa là khả năng một khách hàng vay hoặc một đối tác không hay không thé thực hiện nghĩa vụ đã thoả thuận dẫn đến việc các khoản cho vay hay các khoản phải thu của ngân hàng giảm giá trị hoặc không thu hồi được. Theo Nguyễn Văn Tiến (1999), rủi ro trả nợ được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dung ngân hàng cấp cho họ.
Theo Viện nghiên cứu khoa học ngân hàng (1998), rủi ro trong hoạt động tín dụng là tình trạng người đi vay không có khả năng hoàn trả được lãi hoặc gốc hay cả hai. Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam, rủi ro trả nợ trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tốn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghiã vụ của mình theo cam kết. Từ các định nghĩa trên ta có thê thấy rằng rủi ro trả nợ là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng, biểu hiện qua việc người đi vay không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Các ngân hàng sẽ không bị đe doạ bởi rủi ro trả nợ nếu luôn nhận lại được cả gốc và lãi của các khoản vay đúng thời hạn, ngược lại nếu người vay gặp khó khăn về tài chính hoặc người vay có khả năng nhưng không có thiện chí trả nợ thì cả gốc và lãi khoản vay bị đặt trong tình trạng rủi ro không thu hồi được.2 Phân loại nhóm nợ Trong đề tài này, rủi ro trả nợ sẽ được đo lường thông qua chất lượng các khoản vay biểu hiện bằng trạng thái nhóm nợ mà các khoản vay được phân loại theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Theo Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN Việt Nam thì các khoản cho vay của các NHTM sẽ được phân vào năm (05) nhóm là: - Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: + Các khoản nợ trong hạn và các tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; + Các khoản nợ quá hạn đưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; + Các khoản nợ quá hạn nhưng khách hàng đã trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi bị quá hạn và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, ba (03) tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kế từ ngày bắt đầu tra day đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn; đồng thời có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ bị quá hạn đã được xử lý, khắc phục và tổ chức tín dụng có đủ cơ sở đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại. + Các khoản nợ được cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ nhưng khách hàng đã trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, ba (03) tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kế từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn được cơ cấu lại; đồng thời có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ phải cơ cầu lại thời hạn trả nợ đã được xử lý, khắc phục và tổ chức tín dụng có đủ cơ sở để 7 đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã được cơ cầu lại còn lại. - Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: + Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; + Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tô chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc va lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu); + Các khoản nợ khác của cùng một khách hàng bị liên đới. - Nhóm 3 (Nợ đưới tiêu chuẩn) bao gồm: + Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu đã được phân loại vào nhóm 2; + Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng: + Các khoản nợ khác của cùng một khách hàng bị liên đới.
- Nhóm 4 (Nợ nghỉ ngờ) bao gồm: + Các khoản nợ quá hạn tir 181 ngày đến 360 ngày; + Các khoản ng co cau lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; + Các khoản nợ khác của cùng một khách hàng bị liên đới. - Nhóm § (Nợ có khả năng mắt vốn) bao gồm: + Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cầu lại lần đầu; + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kế cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; + Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; + Các khoản nợ khác của cùng một khách hàng bị liên đới. Như vậy chất lượng các khoản vay sẽ được chia thành năm (05) mức theo cách phân nhóm nợ với nhóm I1 là những khoản vay tốt nhất và nhóm 5 là những khoản vay xấu nhất. Rủi ro tín dụng sẽ tý lệ nghịch với chất lượng khoản vay với nhóm 1 là những khoản vay có rủi ro thấp nhất và nhóm 5 là những khoản vay có rủi ro cao nhất.
Theo quy định của NHNN Việt Nam thì tỷ lệ trích lập dự phòng đối với các nhóm nợ từ nhóm | đến nhóm 5 lần lượt là 0%, 5%, 20%, 50% và 100%. Các khoản nợ thuộc ba nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 được gọi là nợ xấu (NPL — Non Performed Loan) va 1a tiéu chi dé phan anh RRTD, cac khoan ng xấu cảng cao thì RRTD cảng lớn và ngược lại.3 Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng Một số chỉ tiêu thường sử dụng đánh giá rủi ro tín dụng như: Nợ quá hạn, nợ xấu, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro. - Nợ quá hạn là khoản nợ mà người đi vay không thể trả cả gốc và lãi vào ngày đến hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Những khoản nợ này là có đư nợ thuộc nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5.
- Nợ xấu (nợ khó đòi) là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghỉ ngờ về khả năng thanh toán nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của người cho vay. Những khoản nợ này là có dư nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5. Nợ xấu trên tổng dư nợ: chỉ số này dùng để đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng. Những Ngân hàng có chỉ số này thấp cũng có nghĩa là chất lượng tín dụng của Ngân hàng đó cao và ngược lại.
Ty lé ng xâu trên tổng dư nợ = (dư nợ x4u/téng du ng)*100 (%) - Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro, dy phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tốn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của các tổ chức tín dụng. 9 Theo Điều 12 Thông tư 02/2013/TT-NHNN, tý lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ quy định như sau: Nhóm 1: 0%; Nhóm 2: 5%; Nhóm 3: 20%; Nhóm 4: 50%; Nhóm 5: 100%.4 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng * Đối với nền kinh tế Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, các ngành và các cá nhân, vì vậy khi một ngân hàng gặp RRTD hay bị phá sản thì người gửi tiền ở các ngân hàng sẽ hoang mang, lo sợ và kéo nhau rút tiền ồ ạt làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn. Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khó khăn, nền kinh tế bị trì trệ, kém phát triển, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định.
Điều quan trọng hơn là mức độ ảnh hưởng của nó không chỉ đối với một quốc gia mà còn mang tính quốc tế, bởi lẽ ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới. RRTD nhà đất của các ngân hàng Mỹ thời gian qua là một vi du.