chương I thông tư 02/2013/TT-NHNN có quy định nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5, trong đó điều 11 mục 1 chương II có quy định rõ: - Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) được hiểu là các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất. - Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm : Các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao. - Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm : Các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
Cũng theo thông tư 02, nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) là các khoản nợ được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. Như vậy nếu khách hàng phát sinh nợ nhóm 2 vẫn được hiểu là khách hàng còn khả năng trả nợ, dù khả năng trả nợ bị suy yếu trước mắt. Để thống nhất cách hiểu trong toàn bộ luận văn, học viên thống nhất việc đánh giá “khả năng trả nợ” của khách hàng sẽ được đánh giá thông qua nhóm nợ cao nhất tại các TCTD khách hàng có quan hệ tín dụng. Những khách hàng hiện đang có nợ nhóm 3, 4, 5 được hiểu là nhóm khách hàng không có khả năng trả nợ, những trường hợp còn lại được hiểu là khách hàng có khả năng trả nợ.
Các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân. Theo công trình nghiên cứu của Norhaziah Nawai và Mohd Noor Mohd Shariff 3 về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ trong chương trình tín dụng vi mô ở Malaysia (2012), các tác giả sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 309 khách hàng được thu thập trong giai đoạn từ tháng 11/2010 đến tháng 02/2011. Với mục tiêu nghiên cứu, tình trạng trả nợ vay của khách hàng được chia làm 03 loại cụ thể: trả nợ đúng hạn đối với những khách hàng hoàn trả nợ vay đúng ngày, nợ quá hạn đối với những khách hàng chậm trả hoặc trả ít hơn số tiền phải trả và vỡ nợ đối với những khách hàng không có khả năng trả nợ quá 3 tháng. Thông qua mô hình hồi quy Logit, nhóm tác giả đưa vào kiểm định 12 biến bao gồm: giới tính, tuổi, trình độ học vấn, giáo dục tôn giáo, thu nhập của khách hàng, khoảng cách đến nơi vay, doanh số hàng tháng, số lần kiểm soát sau trong tháng, việc đáp ứng khoản vay đúng nhu cầu của người vay, tổng dư nợ, và đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật trong việc ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng độ tuổi, giáo dục tôn giáo, doanh số bán hàng, và việc đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật có tác động tiêu cực đến khả năng trả nợ vay, trong khi đó các biến giới tính, khoảng cách đến nơi vay, tổng số nợ vay, số lần kiểm soát sau và việc đáp ứng khoản vay theo nhu cầu của khách hàng có ảnh hưởng tích cực đến khả năng chi trả của khách hàng. Theo nghiên cứu của Hussain Ali Bekhet và Shorouq Fathi Kamel Eletter 4 (2014), các tác giả đã sử dụng mô hình logit để đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định cho vay. Bài nghiên cứu sử dụng mẫu bao gồm 492 quan sát trường hợp đồng ý và từ chối cấp tín dụng từ các ngân hàng thương mại tại Jordan từ giai 3 Norhaziah Nawaia, Mohd Noor Mohd Shariff, 2012. Factors affecting repayment performance in microfinance programs in Malaysia.
Procedia - Social and Behavioral Sciences, 62 ( 2012 ) 806 – 811 4 Hussain Ali Bekhet, Shorouq Fathi Kamel Eletter, 2014. Credit risk assessment model for Jordanian commercial banks: Neural scoring approach. Review of Development Finance, 4 (2014) 20–28 8 đoạn 2006 đến 2011, trong đó có 292 trường hợp được cấp tín dụng (chiếm 59,3% mẫu quan sát) và 200 trường hợp từ chối cấp tín dụng (chiếm 40,7%). Có tất cả 13 biến bao gồm 07 biến thang đo và 06 biến thứ bậc, cụ thể: tuổi, giới tính, tổng thu nhập, loại hình công ty khách hàng làm việc, nguồn dự phòng, giá trị khoản vay, mục đích vay vốn, kinh nghiệm làm việc ở vị trí hiện tại, thời gian cho vay, quốc tịch người vay, lãi vay, tỷ số nợ/thu nhập và quyết định tín dụng được đưa vào mô hình.
Kết quả cho thấy rằng chỉ có 7 trong 13 biến có ý nghĩa thống kê và ảnh hưởng đến quyết định tín dụng bao gồm mục đích vay vốn, loại hình công ty khách hàng làm việc, nguồn trả nợ dự phòng, tỷ số nợ/thu nhập, lãi vay và tổng thu nhập. Theo nghiên cứu của Vương Quân Hoàng và các cộng sự trong việc xây dựng mô hình định mức tín nhiệm khách hàng thể nhân5 (2006), nhóm tác giả sử dụng mẫu gồm 1.727 khách hàng quan hệ với ngân hàng Techcombank, nhóm khách hàng được chia làm 2 nhóm bao gồm 1.375 khách hàng “tốt” và 353 khách hàng “xấu”. Mô hình hồi quy logit được sử dụng để kiểm định bao gồm 16 biến: tuổi tác, trình độ học vấn, loại hình công việc, thời gian công tác, thu nhập hàng tháng, tình trạng hôn nhân, nơi cư trú, thời gian cư trú, số người phụ thuộc, phương tiện đi lại, phương tiện thông tin, chênh lệch giữa thu nhập và chi tiêu, giá trị tài sản khách hàng, giá trị các khoản nợ, quan hệ với Techcombank và uy tín trong giao dịch. Căn cứ vào kết quả chạy mô hình tác giả đã loại 2 biến thời gian công tác và uy tín trong giao dịch vì có sự phụ thuộc tuyến tính vào các biến khác và hệ số beta tỏ ra không ổn định.
Trong 14 biến còn lại biến thu nhập hàng tháng, chênh lệch thu nhập và chi tiêu, giá trị tài sản của khách hàng có tác động tích cực đến khả năng trả nợ của khách hàng, 11 biến còn lại có tác động trái chiều đến biến phụ thuộc. Bài nghiên cứu về “Nhu cầu vay nợ của các hộ gia đình tại Mỹ: bằng chứng thực nghiệm từ cuộc khảo sát 1995 về tín dụng tiêu dùng” của tác giả Jonathan 5 Vương Quân Hoàng và cộng sự. Phương pháp thống kê xây dựng mô hình định mức tín nhiệm khách hàng thể nhân. Tạp chí ứng dụng toán học, số 2, tập 4.
9 Crook 6 nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tín dụng đối với những hộ gia đình và những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu vay nợ của các hộ gia đình. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình Probit, mẫu nghiên cứu bao gồm 4.299 hộ gia đình. Kết quả chạy mô hình cho thấy khả năng trả nợ chịu ảnh hưởng tích cực bởi yếu tố độ tuổi của chủ hộ (kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Crook và Thomas năm 1993, Cox và Jappelli năm 1993, Gropp và các cộng sự năm 1997 và Crook năm 1996). Tương tự yếu tố thu nhập, thu nhập ròng và sở hữu nhà riêng cũng ảnh hưởng tích cực đến khả năng trả nợ của các hộ gia đình (kết quả này phù hợp với các nghiên cứu Cox và Jappelli năm 1993; Crook năm 1996, Duca và Rosenthal đối với trường hợp biến thu nhập và tình trạng sở hữu nhà riêng).
Trong bài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay đúng hạn của Nông hộ ở tỉnh Hậu Giang” (2011), PGS.TS Trương Đông Lộc và ThS Nguyễn Thanh Bình7 đã sử dụng mẫu gồm 436 nông hộ ở tỉnh Hậu Giang. Bài viết sử dụng mô hình Probit để kiểm định 7 biến số, bao gồm: mục đích sử dụng vốn vay, thu nhập sau khi vay, lãi suất vay, tuổi của người đi vay, ngành nghề chính tạo ra thu nhập của nông hộ, số thành viên có thu nhập trong nông hộ và trình độ học vấn của chủ hộ. Kết quả chạy mô hình cho thấy thu nhập sau khi vay và số thành viên trong gia đình có thu nhập có mối tương quan thuận với khả năng trả nợ đúng hạn của các nông hộ. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy rằng những nông hộ có thu nhập trả nợ từ sản xuất nông nghiệp sẽ có khả năng thanh toán đúng hạn cao hơn so với những nông hộ có nguồn thu nhập từ các hoạt động khác.
Cuối cùng kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì khả năng trả nợ đúng hạn của nông hộ càng cao. The demand for household debt in the USA: evidence from the 1995 Survey of Consumer Finance. Applied Financial Economics, vol 11, pp 83 91 7 Trương Đông Lộc, Nguyễn Thanh Bình, 2011. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ đúng hạn của nông hộ tỉnh Hậu Giang.
Báo công nghệ ngân hàng, số 64, trang 2. 10 Trong bài nghiên cứu Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chi trả của các chương trình tín dụng vi mô ở Malaysia: trường hợp của Agrobank của tác giả A.H Roslan và Mohd Zaini Abd Karim 8 (2009), để khám phá ra các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chi trả của các đối tượng tín dụng vi mô trong trường hợp Agrobank, các tác giả đã sử dụng mẫu nghiên cứu bao gồm 2.630 khách hàng vay được thu thập trong giai đoạn từ tháng 06 đến tháng 08 năm 2007 từ 86 chi nhánh của Agrobank trải khắp đất nước Malaysia. Các tác giả đã sử dụng mô hình Probit và Logit để xác định những nhân tố chính ảnh hưởng đến khả năng chi trả. Các nhân tố này được chia làm 3 nhóm, nhóm thứ nhất bao gồm các nhân tố liên quan đặc điểm/đặc trưng của bên đi vay, nhóm nhân tố thứ hai liên quan đến dự án/kế hoạch kinh doanh của khách hàng vay và nhóm nhân tố thứ ba liên quan đến bản thân khoản vay.
Kết quả nghiên cứu cho thấy biến giới tính có ý nghĩa thống kê, tỷ lệ nợ quá hạn đối với những người vay là nam giới cao hơn so với nữ giới ( trong khi đó nghiên cứu của Bhatt,N và Sui-Yang Tan vào năm 2002 không tìm thấy có sự khác biệt giữa nam và nữ liên quan đến vấn đề nợ quá hạn). Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những người vay hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ/hỗ trợ ít rủi ro hơn đối với những người hoạt động trong lĩnh vực sản xuất.