phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại Chƣơng 2: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2020-2022 Chƣơng 3: Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm và vai trò hoạt động huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về u ng v n của n n n t ươn m i Theo Nguyễn Minh Kiều (2013), huy động vốn là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn từ các cá nhân, tổ chức kinh tế, định chế tài chính bằng nhiều hình thức khác nhau trong khoảng thời gian nhất định để tạo nguồn vốn hoạt động cho ngân hàng. Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM, nó đóng vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Không giống hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác, các NHTM kinh doanh dựa trên một hàng hóa đặc biệt là “tiền tệ” với hoạt động kinh doanh chính là “đi vay và cho vay”. Vốn vừa là phương tiện vừa là đối tượng kinh doanh. Vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng. Ngoài vốn ban đầu cần thiết tức là đủ vốn điều lệ theo quy định của Ngân hàng trung ương thì để có thể hoạt động được việc đầu tiên mà ngân hàng phải làm là huy động vốn.
Vốn huy động sẽ cho phép ngân hàng cho vay, đầu tư. để thu lợi nhuận, nguồn vốn mà ngân hàng huy động được nhiều hay ít quyết định đến khả năng mở rộng hay thu hẹp tín dụng. Nguồn vốn huy 12 động được nhiều thì cho vay được nhiều và mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng. Hay nói cách khác, ngân hàng nào trường vốn là ngân hàng có nhiều thế mạnh trong cạnh tranh.
Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường. Uy tín của các NHTM được dựa trên khả năng tập trung vốn và sẵn sàng chi trả cho khách hàng. Với khả năng huy động vốn cao, tạo cho ngân hàng điều kiện để mở rộng hoạt động kinh doanh, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, không bỏ lỡ cơ hội đầu tư, giảm thiểu rủi ro, góp phần vừa giữ được chữ tín, vừa nâng cao thanh thế của ngân hàng trên thương trường. Nguồn vốn huy động còn quyết định khả năng cạnh tranh của các NHTM, nguồn vốn huy động lớn sẽ chứng minh rằng quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật của ngân hàng hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, tăng chủ động về thời hạn, lãi suất, từ đó giúp ngân hàng đa dạng hóa các loại hình kinh doanh, phân tán rủi ro, tạo thêm lợi nhuận cho ngân hàng, tăng thêm vốn.
Do đó sức cạnh tranh của ngân hàng sẽ tăng lên. Vai trò của ho t n u ng v n t n n n t ươn m i Theo Nguyễn Đăng Dờn (2011), vai trò của hoạt động huy động vốn tại NHTM cụ thể như sau: Vai trò đối với nền kinh tế: Huy động vốn góp phần huy động tập trung nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, qua đó phát huy hiệu quả các nguồn vốn tiền tệ trong nền kinh tế Vai trò đối với khách hàng: Huy động vốn góp phần đáp ứng vốn cho nhu cầu đầu tư phát triển của các doanh nghiệp, tổ chức; Vai trò đối với việc kiểm soát tiền tệ: Huy động vốn giúp NHNN kiểm 13 soát có hiệu quả lưu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế; Vai trò đối với hoạt động kinh doanh của NHTM: Huy động vốn góp phần tạo tiền đề để NHTM kinh doanh an toàn và hiệu quả. Do tính chất của một trung gian tài chính là đi vay để cho vay và cung cấp các dịch vụ tài chính khác, nên vốn huy động luôn đóng vai trò có tính chất quyết định trong kinh doanh của các NHTM. Nói cách khác, nếu như công tác huy động vốn của NHTM không được chú ý đúng mức thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực, làm suy yếu năng lực cạnh tranh, thậm chí ảnh hưởng đến vấn đề an toàn thanh khoản của ngân hàng.
Để bảo đảm hoạt động kinh doanh an toàn và hiệu quả thì vấn đề có tính quyết định vẫn là công tác huy động vốn. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại Vốn vừa mang tính chất tiền đề vừa là vấn đề xuyên suốt cho quá trình hình thành và phát triển của NHTM. Mục tiêu tổng quát của NHTM là an toàn và sinh lời trong kinh doanh. Do đó, việc tạo lập một nguồn vốn vững chắc, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngân hàng là điều rất cần thiết.
Mỗi ngân hàng hoạt động trong một môi trường, điều kiện cụ thể sẽ có những nghiệp vụ huy động vốn khác nhau. Song nhìn chung, các NHTM đều có các hình thức huy động vốn sau: 1. Phân lo t eo tượn u ng - Huy động vốn từ dân cư Đây là một khu vực huy động đầy tiềm năng cho các ngân hàng. Ngân hàng huy động từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến cho những người cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh doanh.
Nguồn huy động từ dân cư thường khá ổn định. - Huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội Đây là nguồn huy động được đánh giá là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao 14 trong tổng nguồn vốn. Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ hầu hết đều có tài khoản trong ngân hàng. Các doanh nghiệp khi bán được hàng hoá đều gửi tiền vào ngân hàng và rút ra khi cần.
- Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng (TCTD) khác Trong quá trình hoạt động các ngân hàng thường có các khoản tiền gửi lẫn nhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh toán. Ngoài ra việc vay lẫn nhau giữa các ngân hàng cũng làm tăng nguồn vốn huy động. Điều này tuy không thường xuyên song là cần thiết trong hoạt động kinh doanh của mỗi NHTM. Khi xuất hiện việc thiếu hụt dự trữ hay khả năng thanh toán bị đe doạ.
các NHTM có thể vay lẫn nhau. Quá trình tăng vốn huy động này có thể được thực hiện ở trên thị trường nội tệ hay thị trường ngoại tệ. Trong số những người cho ngân hàng vay có một người đặc biệt đó là ngân hàng Trung ương. Ngân hàng trung ương đóng vai trò là người cho vay cuối cùng để cứu cho các NHTM khỏi các trục trặc xảy ra.
Huy động vốn từ các ngân hàng và các TCTD khác tuy cũng khá dễ dàng nhưng số lượng thường không nhiều và chi phí huy động thường cao hơn. Do vậy, hình thức này các ngân hàng sử dụng không nhiều. Phân lo căn cứ theo thời gian Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì nó liên quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy động cũng như thời gian phải hoàn trả khách hàng. Theo thời gian, hình thức huy động được chia thành: - Huy động ngắn hạn Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các NHTM thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán.
Phần lớn số này được dùng để 15 cho vay ngắn hạn (dưới 1 năm ) hoặc được chuyển hoán kỳ hạn để thực hiện cho vay trung hạn. Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thường thấp, tuy nhiên tính ổn định lại kém. - Huy động trung hạn Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm). Vốn huy động này ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận tiện.
Tuy nhiên lãi suất huy động nguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn. Nguồn huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các hoạt động đầu tư, thay đổi công nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao. - Huy động dài hạn Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của ngân hàng trên thị trường vốn, với nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định cao (từ 5 năm trở lên). Do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng rất cao.
Phân lo i theo bản chất các nghiệp vụ u ng v n Hình thức phân loại này là hình thức chủ yếu được các NHTM sử dụng hiện nay. Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rõ ràng tạo sự thuận tiện cho ngân hàng khi tiến hành huy động. Các hình thức huy động bao gồm: 1. Huy động tiền gửi a) Huy động tiền gửi thanh toán - Tiền gửi thanh toán: là các khoản tiền gửi không kỳ hạn, trước hết được sử dụng để tiến hành thanh toán chi trả cho các hoạt động hàng hoá dịch vụ và các khoản phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, an toàn và thuận lợi.
Tiền gửi thanh toán thường được quản lý tại ngân hàng trên tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai, được 16 hưởng lãi suất thấp. Có thể nói tiền gửi thanh toán là một nguồn để các ngân hàng huy động vốn với chi phí thấp, trong khi đó quy mô vốn huy động được khá lớn. Tuy nhiên, việc sử dụng các nguồn tiền này gặp nhiều bất lợi bởi nó mang tính chất không ổn định, do khách hàng có thể gửi hoặc rút ra bất cứ khi nào, đặt ngân hàng trước rủi ro thanh khoản. Do đó, muốn sử dụng hiệu quả nguồn này, ngân hàng phải tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng về đặc điểm kinh doanh, thu nhập, chi tiêu…của khách hàng để có kế hoạch khai thác hiệu quả.
b) Huy động tiền gửi có kỳ hạn Đây là loại tiền gửi có sự thoả thuận trước giữa khách hàng và ngân hàng về thời hạn gửi và rút tiền. Đại bộ phận tiền gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và ký thác để hưởng lãi.