MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài. Nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, mạng lưới giao thông đã và đang được xây dựng với tốc độ ngày càng lớn. Các công trình xây dựng thường tập trung ở những nơi có điều kiện kinh tế, giao thông thuận lợi tuy nhiên phan lớn lại bất lợi về điều kiện địa chất công trình. Tai day, cầu trúc nền thường rất phức tap, gôm nhiêu lớp đất yếu, có chiều dày lớn, phân bố ngay trên mặt.
Khi xây dựng nên đường việc lựa chọn giải pháp thiết kế nền móng thường gặp nhiều khó khăn. Khó khăn là ở chỗ, chọn giải pháp vừa đáp ứng được yêu cau của kết cau, vừa đảm bảo tiền độ thi công và giá thành hợp lý. Hiện nay, việc xử lý nền đất yếu khi xây dựng nên đường đã và đang áp dụng những biện pháp như: thay thế một phần hoặc toàn bộ lớp đất yếu băng lớp vật liệu có chỉ tiêu cơ lý tốt hon, sử dụng vải địa kỹ thuật, bắc thắm, cọc cát, giếng cát, coc đất gia cỗ xi măng. Những năm gan đây tại thành phố Hồ Chí Minh khi ham Thủ Thiêm được xây dựng xong , thì tình hình kinh tế ở quận 2 bat đầu phát triển mạnh.
Khi xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là xử lý lún cho nên đường, Khu quận 2 thì địa chất khá là yếu khoảng 20 m dau là lớp bùn sét, nên việc xử lý lớp đất yếu nay khá phức tạp dé hạn chế độ lún cũng như là thời gian thi công nhanh. Phuong án cọc xi măng đã được dé xuất với những ưu điểm thời gian thi công nhanh, công nghệ không quá phức tạp và xử lý khá triệt để vẫn đề lún của công trình. Đề hiểu rõ về sự làm việc của cọc CDM trong điều kiện địa chất đó, thì việc phân tích ứng xử của cọc xi măng đất khi gia có đất yếu dưới nên đường ở khu đô thị mới Thủ Thiêm là khá cần thiết, nhằm thấy được hiệu quả khi xử lý nền đường bằng cọc CDM. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: - Thí nghiệm xác định ty lệ xi măng / đất phù hợp với dia chất khu vực Thủ Thiêm, quận 2.
- So sánh sự khác nhau về cường độ chịu nén và khả năng kháng cắt của mẫu đất trộn xi măng thí nghiệm trong phòng và mẫu khoan lấy lõi từ cọc xi măng đất ngoài công trình. _2- - Tìm ra sự chênh lệch giữa mô đun đàn hồi Eso của mẫu khoan lay lõi từ coc CDM ngoài công trình đem về thí nghiệm nén đơn va Esp của cọc CDM thực tế tai công trình. - Phân tích độ ôn định và biến dạng của công trình thuộc khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm, quận 2. Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu các lý thuyết tính toán cọc xi măng đất va áp dung tính toán khả năng chịu tải , độ lún , sức kháng cat dé gia cỗ dưới nên đất yếu. - Thu thập và phân tích các số liệu thí nghiệm từ cọc CDM thực tế ngoài công trình , để có những kết luận mang tính khách quan trong quá trình tính toán. - Thí nghiệm : Chế bị mẫu đất trộn xi măng với các hàm lượng xi măng khác nhau cho đất tại khu vực cần nghiên cứu, từ đó tìm ra hàm lượng thích hợp cho địa chất khu vực đó. - Mô phỏng : Dùng phần mềm Plaxis để mô phỏng để thấy được chênh lệch giữa số liệu trong tính toán và thực tế.
Y nghĩa và giá trị thực tiễn của đề tài. - Đề tài làm rõ hơn ứng xử của cọc CDM trong điều kiện địa chất ở quận 2, thành phố Hỗ chí Minh , từ đó có những số liệu đánh giá khái quát về khả năng ứng dụng của cọc CDM cho các khu vực có địa chất tương tự. - Góp phần làm rõ hơn mối quan hệ giữa các thông số cọc CDM từ kết quả trong phòng thí nghiệm và hiện trường. Từ đó đưa ra những thông số tương quan áp dụng cho công trình ngoài thực tế.
Hạn chế của đề tài. - Do thời gian , khả năng còn hạn chế nên tác giả chỉ tiến hành thí nghiệm hàm lượng xi măng ảnh hưởng đến cường độ cọc CDM mà chưa nghiên cứu được tính thắm của mau đất trộn xi măng. - Chỉ có số liệu thí nghiệm cua | công trình, nên các tính toán va kết luận chỉ mang tính chất cục bộ nên không có tính thuyết phục nhiều. TONG QUAN VE GIẢI PHÁP XỬ LÝ BANG COC XI MANG DAT 1.1 Lịch sử phat triển và ứng dụng công nghệ coc xi măng đất 1.1 Ứng dụng công nghệ coc dat gia cố xi măng trên thé giới Từ rất lâu, con người đã cải tạo nền đất yếu băng cách trộn với các chất liên kết như vôi, xi măng.
Phương pháp cọc trộn tại chỗ, gọi là “Mixed In Place Pile”, (gọi tắt là phương pháp MIP) dùng chất liên kết là vôi do nước Mỹ nghiên cứu thành công đầu tiên sau Đại chiến thế giới thứ 2 năm 1954, khi đó dùng cọc có đường kính từ 0. Nhưng cho đến 1996 coc đất gia cô xi măng với mục đích thương mại mới được sử dụng với SỐ lượng lớn. Sự phát triển của công nghệ trộn sâu bắt đầu từ Thụy Điền và Nhật Bản từ những năm 1960. Tron khô dùng vôi hạt (vôi sông) làm chat gia cô đã được đưa vào thực tế ở Nhật vào giữa những năm 1970.
Cũng khoảng thời gian đó trộn khô ở Thụy Điển dùng vôi bột trộn vào để cải tạo các đặc tính lún của đất sét dẻo mềm, mềm yếu. Tron ướt dùng vữa xi măng làm chat gia cố cũng được áp dụng trong thực tế ở Nhật từ giữa những năm 1970. Năm 1967, Viện nghiên cứu hải cảng và bến tàu thuộc Bộ giao thông vận tải Nhật Bản bắt đầu các thí nghiệm trong phòng sử dụng vôi cục hoặc vôi bột để xử lý đất biển bang phương pháp trộn vôi dưới sâu. Công việc nghiên cứu bởi Okumura, Terashi và những người khác suốt những năm dau của thập niên 70.
Năm 1974, Viện nghiên cứu hải cảng và bến tàu báo cáo phương pháp trộn vôi dưới sâu đã được bat đầu ứng dụng toàn diện tại Nhật Bản. Năm 1976, viện nghiên cứu công chánh thuộc Bộ xây dựng Nhật Bản hợp tác với Viện nghiên cứu máy xây dựng Nhật Bản bắt đầu nghiên cứu phương pháp trộn phun khô dưới sâu bang bột xi mang, bước thử nghiệm đầu tiên hoàn thành vào cuối năm 1980. Năm 1977, Nhật Bản lần đầu tiên phương pháp trộn xi măng dưới sâu áp dụng trên thực tế. _4- Những nước ứng dụng công nghệ DM nhiều nhất là Nhật Ban.
Theo thống kê của hiệp hội CDM (Nhật Bản), tính chung trong giai đoạn 1980 ~ 1996 có 2345 dự án, sử dụng 26 triệu m3 đất gia cỗ xi măng. Riêng từ 1977 đến 1993, lượng đất gia cô bằng DM ở Nhật vào khoảng 23.6 triệu m3 cho các dự án ngoài biển và trong đất liền, với khoảng 300 dự án. Hiện nay hàng năm thi công khoảng 2 triệu m3. Tại Trung Quốc, công tác nghiên cứu bắt đầu từ năm 1970, mặc dù ngay từ cudi những năm 1960, các kỹ sư Trung Quốc đã học hỏi phương pháp trộn vôi dưới sâu và CDM ở Nhật Bản.
Thiết bị DM dùng trên đất liền xuất hiện năm 1978 và ngay lập tức được sử dụng để xử lý nên các khu công nghiệp ở Thượng Hải. Tổng khối lượng xử lý bằng DM ở Trung Quốc cho đến nay vào khoảng trên | triệu m3. Từ năm 1987 đến 1990, công nghệ DM đã được sử dụng, tong cộng 513000m” đất được gia cô, bao gồm các móng kè, móng của các tường chan phía sau bến cập tàu. Đến năm 1992, một hợp tác giữa Nhật và Trung Quốc đã tạo ra sự thúc đây cho những bước đầu tiên của công nghệ CDM ở Trung Quốc, công trình hợp tác đầu tiên là cảng Yantai.
Trong dự án này 60.000m” xử lý ngoài biển đã được thiết kế và thi công bởi chính các kỹ sư Trung Quốc. Tại Châu Âu, nghiên cứu và ứng dung bat đầu ở Thụy Điển và Phan Lan. Trong năm 1967, Viện Dia chất Thụy Điền đã nghiên cứu các cột vôi theo đề xuất của Jo. Kjeld Páue sử dụng thiết bị theo thiết kế của Linden- Alimak AB (Rathmayer, 1997).
Thu nghiệm đầu tiên tai sân bay Ska Edeby với các cột vôi có đường kính 0.5m và chiều sâu tối đa 15m đã cho những kinh nghiệm mới về các cột vôi cứng hoá (Assarson, 1974). Năm 1974, một đê đất thử nghiệm (6m cao 8m dài) đã được xây dựng ở Phần Lan sử dụng cột vôi đất, nhằm mục đích phân tích hiệu quả của hình dạng và chiều dài cột về mặt khả năng chiu tải. Từ những năm 1970 và đến những năm 1980, các công trình nghiên cứu và ứng dụng tập trung chủ yếu vào việc tạo ra vật liệu gia cố, tối ưu hoá hỗn hợp ứng với các loại đất khác nhau. Nam 1993, Hiệp hội DJM ( Deep jet mixing -phun trộn khô dưới sâu) cua Nhật Bản xuất bản sách hướng dẫn những thông tin mới nhất thiết kế và thi công cọc đât xi măng.
_5- Năm 1996, hon 5 triệu m' cọc vôi va vôi xi măng đã được thi công tại Thụy Điền kế từ năm 1975. Sản phẩm từng năm tai Thụy Dién và Phan Lan lúc bay giờ là cùng sản lượng như nhau. Vào tháng 11 năm 1999 một hội nghị quốc tế về phương pháp trộn khô được tổ chức tại Stokholm, Thụy Điền. Tại Mỹ, việc xử lý và nâng cấp các đập đất nhăm đáp ứng mục tiêu an toàn trong vận hành và ngăn ngừa hiện tượng thấm rất được quan tâm.
CDM đã được ứng dụng dé nâng cấp các đập đất hiện có, tạo ra các tường chống thấm. Tai Đông Nam A, cọc đất — vôi hay xi măng chưa được thông dung vi lý do chủ yếu là các máy móc thi công, chi phí khai thác vôi sống tinh khiết cao. Xu hướng phát triển của công nghệ CDM trên Thế giới hiện nay hướng vào việc khai thác mặt mạnh của CDM. Khi mới phát minh, yêu cầu đối với CDM ban dau chỉ là nham đạt được cường độ cao va chi phí thấp; nhưng gần đây do những nan giải trong xây dựng đã đặt ra những yêu cầu cao hơn về sự tin cậy và hoàn chỉnh của công nghệ.
Xu thế quan trọng của công nghệ này là ở chỗ nó cho phép xử lý tại chỗ và cô lập các chất ô nhiễm trong đất, hứa hẹn cho những nghiên cứu tiếp tục.