Đặt vấn đề nghiên cứu Trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu về quy hoạch, tổ chức giao thông và đã đư ợc áp dụng rất thành công ở các nước tiên tiến. Tuy nhiên việc ứng dụng các nghiên cứu đó vào hoàn cảnh nước ta lại chưa mang lại hiệu quả. Có thể kể đến các phương án được bộ giao thông đưa vào áp dụng như: thay đổi giờ làm công sở, giờ học các trường trung học phổ thông để giảm ùn tắc giao thông hay đề xuất hạn chế xe cá nhân và tăng phí lưu thông ô tô và xe máy. Các phương án nêu trên đều đã không đạt được kết quả mong muốn và đặc biệt là phải thực hiện thí điểm trên thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, điều đó đã gây ra r ất nhiều xáo trộn, các ý kiến trái chiều của nhân dân cũng như làm hao tổn rất nhiều chi phí cho việc thử nghiệm.
Ngoài ra ở một số thành phố lớn trên thế giới đã áp dụng nhiều phương án để giảm ùn tắc như: bắt buộc xe khi đi vào nội đô không được đi một mình mà phải ghép khách lại đi chung với nhau, hay việc tạo thành một vành đai mà khi xe muốn đi vào thì phải đóng phí tại nhiều cửa thu được bố trí khác nhau, việc thu phí khiến cho người dân muốn đi vào nội đô phải cân nhắc nhu cầu đi vào khu đó có thực sự cần thiết hay không…Các phương án trên đều rất hữu ích và đã được áp dụng thành công ở nhiều thành phố lớn. Tuy nhiên việc áp dụng vào nước ta đòi h ỏi cần phải tiến hành thí điểm, rất tốn tiền mà chưa biết kết quả có đáp ứng được như mong đợi hay không. Qua thời gian, cùng với sự phát triển của khoa học máy tính cũng như t ầm nhìn xa hơn c ủa các nhà quy hoạch, tổ chức giao thông, hầu hết các nước đã áp dụng phương pháp mô phỏng giao thông dựa trên môi trường phần mềm để thấy được trước những diễn biến của dòng xe, việc hình thành dòng chờ tại nút giao gây ùn tắc như thế nào. Qua đó có thể áp dụng những biện pháp tổ chức hay quy hoạch lại hệ thống giao thông để có được hệ thống giao thông tốt hơn.
Tuy thuộc vào đặc tính của hệ thống giao thông của mỗi quốc gia mà người ta đã xây d ựng các mô 10 hình mô phòng giao thông khác nhau sao cho phù hợp. Thông thường đối với các nước phát triển thì mô hình chủ yếu được xây dựng cho xe ô tô, ngược lại đối với những nước vẫn còn sử dụng nhiều xe máy như nước ta, Ấn Độ, Thái Lan thì việc xây dựng mô hình dành cho dòng xe hỗn hợp bao gồm xe ô tô, xe máy là cần thiết. Trong luận văn này trình bày m ột hướng tiếp cận khác góp phần vào việc ứng dụng các nghiên cứu trong nước và thế giới vào tình hình giao thông cụ thể tại nước ta, đó là mô phỏng giao thông dựa trên phương pháp Agent-Based Model. Việc mô phỏng có thể được thực hiện theo hai hướng mô phỏng vĩ mô hoặc mô phỏng vi mô.
Trong mô phỏng vi mô ta xem mỗi một xe tham gia giao thông như là một tác tử, các tác tử có thể tương tác với nhau và tương tác với môi trường quanh nó, chính là hệ thống giao thông nơi tác tử đó tham gia lưu thông. Mỗi tác tử sẽ hoạt động dựa trên những thông số mà nó được yêu cầu và được chia làm ba loại: hành vi tự thân của tác tử, ảnh hưởng hành vi của tác tử này lên các tác tử khác và ảnh hưởng hành vi của tác tử đối với môi trường.2 Cơ sở hình thành đề tài Đề tài “ Phân tích sự tương tác giữa các xe tại nút giao thông bằng phương pháp agent-based model ” của học viên được hình thành dựa trên cơ sở nối tiếp và phát huy các nghiên cứu trước đây trong việc mô phỏng giao thông dựa trên phương pháp Agent-Based Model. Với việc sử dụng công cụ mô phỏng là phần mềm Netlogo, một trong những lựa chọn khác khá mới mẻ và hứa hẹn sẽ mang lại nhiều kết quả tích cực bên cạnh các phần mềm mô phỏng phổ biến hiện nay như Repast, Gama, corsim… 1.3 Mục tiêu và giới hạn nghiên cứu 1.1 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu xây dựng mô hình mô phỏng giao thông cho một nút giao thông có đèn tín hiệu giao thông với 2 tuyến đường giao cắt nhau, mỗi tuyến đường có 4 làn xe ( 2 làn xe mỗi chiều, 1 làn xe dành cho ô tô, 1 11 làn xe dành cho xe máy) trong điều kiện giao thông hỗn hợp tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Để đạt được mục tiêu chính này, đề tài đã giải quyết các vấn đề sau: - Ứng dụng các lý thuyết dòng xe đã có trên th ế giới như Car-following Model, CellularAutomata, Trafficsignal synchronization vào mô hình mô phỏng nút giao thông.
- Thu thập các số liệu đầu vào cần thiết cho việc thiết lập mô hình mô phỏng như: các điều kiện về kích thước hình học, thời gian đèn tín hiệu giao thông, lưu lượng xe ô tô, xe máy, xe tải, phần trăm xe rẽ trái, phần trăm xe rẽ phải để thực hiện việc mô hình chuyển động và sự ảnh hưởng của các xe trong nút giao thông nghiên cứu. - So sánh kết quả giữa mô hình và thực tế để đánh giá độ chính xác của mô hình mô phỏng 1.2 Giới hạn nghiên cứu Mô hình hệ thống giao thông được coi là một trong những dạng mô hình phức tạp nhất. Việc ứng dụng phần mềm Netlogo để mô phỏng còn khá mới mẻ ở nước ta, vì vậy quá trình nghiên cứu cần có rất nhiều thời gian và phải có cơ sở lập trình máy tính vững vàng để có thể chuyển đổi càng gần những ứng xử của các xe thực tế so với ứng xử của tác tử trong mô hình càng tốt. Kết quả thu được của từ mô hình như lưu lượng vào, ra khỏi nút giao được so sánh và hiệu chỉnh với thực tế để đánh giá tính khả thi của việc mô phỏng giao thông theo những cơ sở lý thuyết đã áp dụng.
Do thời gian và kinh phí có hạn đề tài chỉ tập trung xây dựng và đánh giá dựa trên một số liệu hạn chế tại Tp.HCM cũng như việc không xem xét được trong điều kiện xe máy chen lấn, luồn lách, vượt xe, chuyển làn trong thời gian đèn đỏ. Để có thể xem xét thêm yếu tố này cần phải có những nghiên cứu về tâm lý của người lái, phong tục và thói quen của người dân tham gia giao thông.4 Các nghiên cứu trước đây 1.1 Lý thuyết chuyển động của dòng xe ô tô, xe máy Chu Công Minh (2007), nghiên cứu về phân tích ứng xử của xe gắn máy tại nút giao thông điều khiển bằng đèn tín hiệu. Nghiên cứu đề cập đến hành vi xe máy vượt qua xe khác, được phân tích dựa trên tốc độ của cá thể xe máy và sự khác nhau giữa vận tốc xe đang vượt và xe đã vượt, khoảng cách theo chiều ngang của xe vượt và xe bị vượt, khoảng cách theo chiều dọc từ khi bắt đầu đến khi kết thúc quá trình vượt xe. Vì tính cơ đ ộng của xe máy cao hơn rất nhiều so với ô tô nên tác giả đã tiến hành định nghĩa lại làn xe dành cho xe máy.
Làn xe máy năng động không cố định như làn xe thông thường mà nó phụ thuộc theo vị trí của bản thân xe máy đó. Bề rộng làn xe mới được xác định bằng bề rộng của khu vực ảnh hưởng của xe máy đó. Sau đó sự chuyển động tăng tốc, giảm tốc, chuyển làn của xe máy được áp dụng giống như đối với xe ô tô với 1 số điều chỉnh. Có 2 chế độ chuyển động của dòng xe, chuyển động tự do và chuyển động theo sau, mỗi xe khi di chuyển sẽ tồn tại 1 vùng ảnh hưởng theo chiều dọc, khi khoảng cách với xe đi trước lớn hơn vùng ảnh hưởng này, xe sẽ vận hành theo chế độ tự do, ngược lại nếu khoảng cách với xe đi trước nhỏ hơn vùng ảnh hưởng này xe sẽ chuyển động theo chế độ xe theo xe.
Ngoài ra thời gian phản ứng đối với xe máy cũng đư ợc phát triển. Mô hình ứng xử được phát triển để mô hình khi nào, ở đâu và như thế nào xe máy ứng xử trong dòng xe tại nút giao được điểu khiển bằng đèn tín hiệu giao thông. Vùng ảnh hưởng theo chiều dọc được ước tính để xác định khi nào xe máy cần ứng xử. Trong thực tế sau khi tìm đư ợc làn thích hợp bằng mô hình gap acceptance.
Gapđư ợc chọn nếu nó lớn hơn critical gap, là một hàm thể hiện sự khác nhau giữa tốc độ xe chủ thể và xe đi trước nó. Tất cả những thông số của mô hình lựa chọn làn và mô hình khoản cách chấp nhận được (gap acceptance model) được ước tính để giải thích hành vi hoàn thiện của xa máy. Lunenfeld và Alexander 1990, Koppa 1997 cho rằng lái xe là một quá trình phân cấp với 3 mức độ thực hiện: Định vị hoặc lên kế hoạch, hướng dẫn, điều khiển. Trong đó điều khiển mang ý nghĩa là s ự quyết định lựa chọn tốc độ và làn di 13 chuyển sao cho đảm bảo được mục tiêu đề ra là đến được nơi cần đến với thời gian dự kiến.
Mô hình hành vi lái xeđ ặc biệt quan tâm đến các lựa chọn tốc độ và làn đường. Trong đó, 2 mô hình đáng chú ý nh ất là: mô hình tăng -giảm tốc và mô hình chuyển làn. Những mô hình tăng-giảm tốc sớm nhất là mô hình xe theo xe. Các mô hình này mô tả ứng xử của một phương tiện khi nó di chuyển theo phương tiện trước nó (phương tiện dẫn đầu).
Như vậy, phương tiện được kết luận là phản ứng theo hành vi của phương tiện dẫn đầu. Gần đây, một số mô hình tổng quát đề cập đến ứng xử của phương tiện trong các trường hợp khác được giới thiệu. Những mô hình nàyđ ịnh nghĩa hành vi ứng xử cho từng chế độ: xe theo xe hoặc free-flow. Ví dụ, nếu như phương tiện không ở gần phương tiện dẫn đầu thì nó có khả năng áp dụng mô hình tăng tốc free-flow để đạt tốc độ mong muốn.
Quá trình chuyển làn thường được mô hình hóa thành 2 giai đo ạn: (i) quyết định có nên chuyển làn hay không và (ii) thực hiện chuyển làn. Việc chuyển làn lại được phân thành: chuyển làn bắt buộc và không bắt buộc.