đặt vấn đề nghiên cứu vào một bối cảnh cụ thể sẽ giúp chúng ta có những cơ sở để phân tích một cách sâu sắc và toàn diện hơn vấn đề nghiên cứu. Trước tình hình lây nhiễm HIV/AIDS ngày càng lan rộng, trong thời gian qua Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã có nhiều cam kết trong phòng, chống HIV/AIDS thông qua những văn bản pháp luật, chiến lược ngành và các văn bản hướng dẫn. Ngày 11 tháng 3 năm 1995, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị về lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS; Tháng 5 năm 1995, Pháp lệnh phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá IX thông qua đã tạo dựng được cơ sở pháp lý cho công tác phòng, chống HIV/AIDS; Hơn 29 văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, chỉ đạo đã được Chính phủ và các cơ quan Trung ương ban hành; Ngày 24 tháng 02 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 02/2003/CT-TTg về tăng cường công tác phòng, chống HIV/AIDS; Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến 2010 và tầm nhìn 2020 được Thủ tướng phê duyệt tháng 3/2004. Nội dung của Chiến lược được phát triển dựa trên cơ sở các tuyên bố chung của Liên hợp quốc.
Cụ thể là Tuyên bố cam kết về HIV/AIDS năm 2001 tại Phiên họp đặc biệt Đại hội đồng Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNGASS) và các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) [20]. Năm 2007, Luật phòng, chống HIV/AIDS và Nghị định 108 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật ra đời. Qua đó đã giúp tháo gỡ nhiều vướng mắc trong việc phối hợp hoạt động giữa các ban ngành và tạo ra hành lang pháp lý cho việc triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại. Đồng thời, Luật phòng, chống HIV/AIDS cũng giúp tạo nên sự đồng thuận giữa các ban ngành phối hợp thực hiện chương trì nh.
Đó cũng là những bước tiến thuận lợi cho hoạt động tiếp cận và tuyên truyền của nhóm GDVĐĐ [19], [28]. Lý thuyết tiếp cận Lý thuyết vòng xoáy im lặng Năm 1974, Noelle Neumann giới thiệu khái niệm “vòng xoáy của sự im lặng” (spiral of silence): Lý thuyết này giải thích việc tại sao con người thường có xu hướng giữ im lặng khi họ cảm giác thấy quan điểm của mình là thiểu số. Tác giả đề cập đến việc tại sao con người quyết định nói ra quan điểm của mình hoặc không. Khi con người cảm thấy quan điểm của mình có vẻ thắng thế, lan rộng và được người khác đón nhận, họ sẽ tự tin phát biểu một cách công khai.
Ngược lại, nếu quan điểm của họ đang mất dần vị thế, họ sẽ có xu hướng rơi vào im lặng, điều này phù hợp với nỗi sợ bị cô lập. Vòng xoáy im lặng cũng giải thích tại sao con người không sẵn sàng bày tỏ công khai quan điểm của mình, khi họ tin rằng quan điểm của mình thuộc về thiểu số. Mô hình này dựa trên 3 tiền đề: * Con người có một “bộ phận thống kê” hay giác quan thứ 6, cho phép họ nắm bắt dư luận xã hội đang phổ biến thậm chí không cần phải thăm dò; * Con người sợ bị cô lập và biết thái độ nào sẽ làm tăng khả năng bị cô lập; * Con người rất dè dặt trong việc biểu lộ những quan điểm mang tính thiểu số của mình chủ yếu là do sợ bị cô lập. Nếu một cá nhân thấy quan điểm của mình giống với dư luận xã hội đang chiếm ưu thế thì sẵn sàng thể hiện nó công khai.
Ngược lại, khi quan điểm chung thay đổi, cá nhân đó cảm thấy quan điểm của mình ít được ưa chuộng hơn sẽ không muốn bày tỏ nó công khai. Khoảng cách về nhận thức giữa dư luận xã hội và quan điểm cá nhân tỷ lệ nghịch với khả năng bộc lộ quan điểm của cá nhân đó [9]. Thông qua quá trình tương tác xã hội, con người sẵn sàng chịu ảnh hưởng lẫn nhau trong việc trình bày các quan điểm. Như vậy, Neumann đã cho chúng ta thấy rằng quá trình xoắn ốc của “vòng xoáy im lặng” dẫn đến một quan điểm chiếm ưu thế chế ngự đám đông công chúng và những người có quan điểm trái ngược sẽ im lặng.
10 Theo lý thuyết “vòng xoáy im lặng” ý kiến cá nhân có thể thay đổi hoặc không thay đổi phụ thuộc vào sự nhận thức của các cá nhân và từ đó thái độ sẵn sàng bộc lộ của họ cũng thay đổi theo. Bên cạnh đó, áp lực của nhóm đóng vai trò quan trọng qua quá trình giao tiếp giữa các thành viên và tác động ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên những quyết định phụ thuộc vào nhau để tránh sự cô lập và bị đơn độc. Bà giải thích rằng, các cá nhân bắt chước lẫn nhau vì hai lý do: Thứ nhất: là để tăng thêm nguồn kiến thức Thứ hai: để tránh được sự biệt lập Những thí nghiệm của bà đã chứng minh được rằng áp lực của việc sợ bị nhóm cô lập đã ảnh hưởng quyết định đến chủ thể. Theo Alexis de Tocqueville (Nhà xã hội học, chính trị học Pháp) đã mô tả: Nỗi sợ hãi bị cô lập còn hơn cả nỗi sợ khi mắc lỗi, vì thế họ học cách để tham gia vào tình cảm của đa số.
Thậm chí, trong những trường hợp vô hại nhất, không hề ảnh hưởng gì đến quyền lợi của họ, song phần lớn con người đều sẽ theo quan điểm của số đông ngay cả khi họ biết nó là sai lầm. Tất cả các xã hội đều có những áp lực buộc cá nhân tuân theo số đông dù ở các trình độ khác nhau. Từ đây, Neumann đã chỉ ra rằng chính nỗi sợ hãi bị cô lập đã làm cho những áp lực này có hiệu quả. Nỗi sợ hãi này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lượng thông tin và nguồn thông tin mà con người biểu lộ và cái mà họ lựa chọn.
Thực tế, những người đã và đang hành nghề mại dâm vẫn chịu sự kỳ thị từ phía cộng đồng, xã hội. Điều đó khiến họ thu mình vào những vỏ bọc mà họ cho là an toàn với bản thân mình. “Họ cảm thấy quan điểm của mình đang mất dần vị thế và có xu hướng rơi vào im lặng, điều này phù hợp với nỗi sợ bị cô lập”. Chính vì vậy, giáo dục viên đồng đẳng (phụ nữ đã từng hành nghề mại dâm) đã trở thành mô hình hiệu quả làm phá vỡ “sự im lặng” trong “vòng xoáy” của nhóm đối tượng nguy cơ cao.
Đồng thời GDVĐĐ cũng làm tăng thêm nguồn kiến thức, tránh được sự biệt lập cho nhóm đối tượng. Quá trình tương tác giữa GDVĐĐ với PNMD và trong nhóm PNMD sẽ tạo ra những áp lực nhóm, điều đó giúp cho các đối tượng thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của mình theo hướng tích cực. 11 Lý thuyết mạng xã hội Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi chúng ta được gắn vào nhóm theo nhiều cách thức đa dạng (gia đình, bạn bè, nhóm làm việc, v. Trong thực tiễn xã hội, ở một chừng mực nào đó, những quyết định của nhóm lại có ưu thế hơn là những quyết định của cá nhân.
Thực tế cho thấy, mỗi chúng ta luôn duy trì một mạng lưới xã hội, gồm toàn bộ mạng lưới, các quan hệ giữa cá nhân với cá nhân và giữa cá nhân với các thành viên của nhóm. Mỗi một cá nhân có quan hệ trên nhiều bình diện khác nhau. Khái niệm mạng lưới xã hội dùng để chỉ phức thể các mối quan hệ xã hội do con người xây dựng, duy trì và phát triển trong cuộc sống thực với tư cách là thành viên của xã hội. Trong mỗi mạng xã hội khác nhau đều tạo nên những mắt xích khác nhau để duy trì những nhóm xã hội riêng, phù hợp với cá nhân.
Theo từ điển Wikipedia, mạng xã hội là một sự mô tả cấu trúc xã hội giữa các cá nhân, thường là các cá thể hay các tổ chức. Nó chỉ ra những phương thức mà người ta liên kết với nhau thông qua những tương đồng xã hội đa dạng. Nhà xã hội học Mỹ James Cook nhấn mạnh: “Mạng xã hội là một hình ảnh thống nhất và được đơn giản hoá trong lĩnh vực xã hội học đầy phức tạp và phân tán. Đó là sự mô tả cụ thể về cấu trúc xã hội trừu tượng, có khả năng hiện hữu hoá những nguồn lực xã hội không nhìn thấy.
Mặc dù các mạng xã hội đều đơn giản chỉ được thực hiện bằng các nút và dây nối, chúng vẫn đủ linh động để mô tả các quan hệ của quyền lực và sự tương tác cung cấp một nền tảng vi mô của Xã hội học”. Các mạng lưới xã hội là một phần quan trọng của cơ cấu xã hội. Nó hữu ích cho các cá nhân và quan trọng trong hầu hết các xã hội. Vì thông qua mạng lưới xã hội, thông tin, kiến thức và các nguồn nhân lực được chia sẻ giữa các cá nhân và các nhóm xã hội, từ đó tăng sức mạnh cho cá nhân và cho cả xã hội; mặt khác, làm xã hội vận hành một cách gắn bó, hài hòa và trôi chảy.
Hình thức mạng xã hội giúp xác định tính hữu ích của mạng đối với các cá nhân trong nó. Những mạng mở với nhiều mối nối và liên kết xã hội lỏng lẻo (được xác định bằng sự khác biệt giữa mật độ trong nội bộ nhóm và mật độ trong tổng thể mạng) có khả năng giới thiệu những ý tưởng và cơ hội mới cho các thành viên của 12 nó hơn là các mạng khép kín với những dây liên kết rườm rà. Một nhóm cá nhân có những mối liên hệ với những đời sống xã hội khác có thể tiếp cận với một diện thông tin rộng lớn hơn. Tốt hơn cho thành công của một cá nhân là phải có những mối quan hệ với nhiều mạng đa dạng hơn là nhiều liên kết trong một mạng đơn lẻ.
Sự liên kết giữa cá nhân với cá nhân và cá nhân với nhóm của phụ nữ mại dâm và giáo dục viên đồng đẳng chính là một mạng xã hội. Có thể nói đây là một mạng xã hội nhỏ và kín, nhưng nó lại rất hữu ích với các thành viên trong mạng. Mỗi một cá nhân là một mắt xích trong mạng. Thông qua mạng xã hội này, các thành viên ngoài việc được chia sẻ, họ còn được trang bị những thông tin, kiến thức liên quan đến HIV/AIDS.
Qua đó, tạo ra sự gắn kết của mối tương tác cũng như hiệu quả của quá trình truyền thông cho các thành viên trong mạng.