Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, đồng thời là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô và phân phối lại thu nhập xã hội. Điều 47 Hiến pháp năm 2013 đã hiến định: "Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định". Trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế thị trường, các hành vi trốn thuế, tránh thuế và lách thuế diễn ra với mức độ ngày càng gia tăng, thủ đoạn tinh vi, gây thất thoát ngân sách và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh lành mạnh. Dù hệ thống pháp luật đã có nhiều sửa đổi, việc xử lý vi phạm về thuế trên thực tế chủ yếu vẫn dừng lại ở xử phạt vi phạm hành chính, trong khi công tác xử lý hình sự còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và tồn tại một số sai sót.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Trần Anh (người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Thị Diễm Hằng, chuyên ngành Luật hình sự, năm 2024) tập trung giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trốn thuế. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận chung về thuế, hành vi trốn thuế và dấu hiệu pháp lý của tội trốn thuế theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng áp dụng quy định pháp luật hình sự trong công tác giải quyết, xét xử tội trốn thuế của Tòa án nhân dân các cấp tại Việt Nam.
  3. Chỉ ra những tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật và nguyên nhân của các hạn chế đó.
  4. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trốn thuế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tội trốn thuế theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Các quy định về tội trốn thuế trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), trọng tâm là Điều 200; kết hợp với các văn bản pháp luật về thuế liên quan và thực tiễn xét xử thông qua các bản án hình sự.
  • Phạm vi thời gian: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn 05 năm (từ năm 2019 đến năm 2023).
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các quan điểm học thuật về tài chính công và luật hình sự của các tác giả trong và ngoài nước (K. Marx, Gaston Jèze, Joseph E. Stiglitz, TS. Nguyễn Mai Bộ, Đinh Văn Quế, GS.TS. Lê Cảm...), cùng hệ thống giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả khai thác bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 47);
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Điều 200 quy định về tội trốn thuế, cùng các điều khoản về đồng phạm (Điều 17), hình phạt và tình tiết tăng nặng (Điều 45, 52, 53), án treo (Điều 65), trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại (Điều 75, 76, 77, 79, 84, 86), các tội danh liên quan (Điều 174, 188, 189, 192, 208, 219, 341, 354, 360) và quy định về tố giác tội phạm (Điều 19, 390);
  • Luật Quản lý thuế năm 2019; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế năm 2014;
  • Nghị định số 125/2020/NĐ-CP, Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, Nghị định số 102/2021/NĐ-CP, Nghị định số 10/2022/NĐ-CP;
  • Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS về án treo.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp phân loại và hệ thống hóa, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp lịch sử và phương pháp thống kê xã hội học pháp lý dựa trên dữ liệu xét xử thực tế.

Nguồn dữ liệu thực chứng gồm:

  • Báo cáo thống kê của Vụ Thống kê - Tổng hợp, Tòa án nhân dân tối cao về số liệu thụ lý, giải quyết và kết quả áp dụng hình phạt đối với tội trốn thuế giai đoạn 2019 - 2023.
  • Các bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật: Bản án số 176/2020/HS-PT (TAND tỉnh Đồng Tháp), Bản án số 398.4/2022/HS-PT (TAND Cấp cao tại Hà Nội), Bản án số 153/2021/HS-ST (TAND huyện Chương Mỹ), Bản án số 56/2021/HS-ST (TAND huyện Dầu Tiếng), Bản án số 03/2024/HS-ST (TAND tỉnh Hà Tĩnh), Bản án số 67/2023/HS-PT (TAND tỉnh Bình Định), Bản án số 308/2023/HS-ST (TAND TP. Hà Nội).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về tội trốn thuế trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Chương này tập trung làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về thuế, hành vi trốn thuế và cấu thành tội phạm của tội trốn thuế. Tác giả đưa ra định nghĩa: Tội trốn thuế là hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bằng việc trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật cho Nhà nước, do người có năng lực trách nhiệm hình sự đạt độ tuổi luật định hoặc pháp nhân thương mại thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước.

Phân tích 04 yếu tố cấu thành tội phạm:

  • Khách thể: Trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, trực tiếp là chế độ quản lý thu nộp ngân sách nhà nước từ các sắc thuế.
  • Mặt khách quan: Bao gồm 09 nhóm hành vi được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 200 BLHS:
    1. Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn hoặc hết thời hạn gia hạn;
    2. Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;
    3. Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn thấp hơn giá trị thanh toán thực tế;
    4. Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào làm giảm tiền thuế phải nộp hoặc tăng tiền thuế được khấu trừ, miễn, giảm, hoàn;
    5. Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp hoặc tiền thuế được hoàn;
    6. Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung sau khi hàng đã thông quan (nếu không thuộc Điều 188, 189);
    7. Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu;
    8. Cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa;
    9. Sử dụng hàng hóa thuộc diện không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế sai mục đích quy định mà không khai báo chuyển đổi mục đích.
  • Định lượng cấu thành tội phạm: Đối với cá nhân, số tiền trốn thuế từ 100.000.000 đồng trở lên (hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc có tiền án về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, sở hữu... chưa xóa án tích). Đối với pháp nhân thương mại, số tiền trốn thuế từ 200.000.000 đồng trở lên (hoặc từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng kèm điều kiện tiền án, tiền sự).
  • Chủ thể: Cá nhân có năng lực TNHS, từ đủ 16 tuổi trở lên và có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định pháp luật; pháp nhân thương mại thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 75 BLHS 2015.
  • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp), động cơ phạm tội đa số mang tính vụ lợi.

Hệ thống khung hình phạt:

  • Cá nhân: Khung 1 (phạt tiền 100 triệu - 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm); Khung 2 (phạt tiền 500 triệu - 1,5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm với các tình tiết định khung tăng nặng: có tổ chức, trốn thuế từ 300 triệu đến dưới 1 tỷ đồng, lợi dụng chức vụ quyền hạn, phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm nguy hiểm); Khung 3 (phạt tiền từ 1,5 tỷ đến 4,5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm khi trốn thuế từ 1 tỷ đồng trở lên); Hình phạt bổ sung gồm phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề 01-05 năm hoặc tịch thu một phần/toàn bộ tài sản.
  • Pháp nhân thương mại: Phạt tiền từ 300 triệu đến 10 tỷ đồng tùy theo định lượng và tình tiết; đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn theo Điều 79 BLHS; hình phạt bổ sung gồm phạt tiền từ 50 triệu đến 200 triệu đồng, cấm kinh doanh hoặc cấm huy động vốn từ 01 đến 03 năm.

Tác giả cũng phân biệt tội trốn thuế với tội buôn lậu (Điều 188 BLHS) và tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành công cụ chuyển nhượng giả hoặc các giấy tờ có giá giả khác (Điều 208 BLHS). Khi hành vi khai báo gian dối hải quan xảy ra trong quá trình buôn bán hàng hóa trái phép qua biên giới thỏa mãn cấu thành tội buôn lậu thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn lậu mà không định thêm tội trốn thuế.

Chương 2: Thực tiễn áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tội trốn thuế

Chương 2 tổng hợp số liệu thực tiễn công tác thụ lý, xét xử và lượng hình đối với tội trốn thuế của TAND các cấp tại Việt Nam từ năm 2019 đến năm 2023.

Bảng 1: Số liệu thụ lý và giải quyết của TAND các cấp đối với tội phạm trốn thuế (2019 - 2023)

Năm Tổng số Tòa án thụ lý sơ thẩm Số vụ án đã giải quyết Số vụ án đưa ra xét xử Số bị cáo đưa ra xét xử
2019 36 vụ / 80 bị can 30 vụ 25 vụ 50 bị cáo
2020 48 vụ / 99 bị can 37 vụ 29 vụ 59 bị cáo
2021 41 vụ / 95 bị can 30 vụ 24 vụ 42 bị cáo
2022 76 vụ / 185 bị can 63 vụ 50 vụ 87 bị cáo
2023 121 vụ / 292 bị can 100 vụ 81 vụ 188 bị cáo
Tổng cộng 322 vụ / 751 bị can 260 vụ 209 vụ 426 bị cáo

Bảng 2: Hình phạt áp dụng đối với tội trốn thuế của TAND các cấp (2019 - 2023)

Năm Phạt tiền Cải tạo không giam giữ Tù từ 03 năm trở xuống Tù trên 03 năm đến 07 năm Tù trên 07 năm đến 15 năm Tù trên 15 năm đến 20 năm Trục xuất Hưởng án treo (trong mức tù ≤ 3 năm)
2019 20 0 18 4 0 0 0 10
2020 19 1 16 5 0 0 0 18
2021 16 1 14 3 0 0 0 8
2022 39 4 16 6 0 0 0 28
2023 73 6 23 10 1 1 1 64
Tổng 167 12 87 28 1 1 1 128

Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng:

  • Định tội danh: Khó khăn trong việc xác định đối tượng chịu thuế (như trường hợp đồng sở hữu bất động sản cho thuê, nếu phân chia nghĩa vụ thuế theo tỷ lệ lợi nhuận thì số tiền trốn thuế của từng cá nhân không đủ mức tối thiểu 100 triệu đồng để xử lý hình sự); sai lầm trong việc xác định hành vi vi phạm và số liệu hàng tồn kho thực tế dẫn đến việc hủy án sơ thẩm để điều tra lại (Bản án số 67/2023/HS-PT của TAND tỉnh Bình Định đối với bị cáo Hồ Thị C).
  • Quyết định hình phạt: Tỷ lệ áp dụng án treo cao (128 bị cáo được hưởng án treo trong giai đoạn 2019-2023, tăng gần gấp đôi so với 65 bị cáo giai đoạn 2013-2017). Tòa án có xu hướng quá chú trọng vào các tình tiết về chính sách xã hội (gia đình có công với cách mạng, hoàn cảnh khó khăn) thay vì đánh giá đúng khả năng tự cải tạo và tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội (Bản án số 308/2023/HS-ST xử phạt bị cáo Phạm Thị Thùy D 18 tháng tù cho hưởng án treo dù có chuyên môn kế toán).

Nguyên nhân của hạn chế:

  • Hệ thống pháp luật chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về việc phân biệt tội trốn thuế với tội buôn lậu, tội làm giả giấy tờ có giá;
  • Nhiều cụm từ trong Điều 200 BLHS còn mang tính định tính, chưa có giải thích chi tiết như: "sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác", "cấu kết với người gửi hàng";
  • BLHS năm 2015 chưa quy định tội trốn thuế vào danh mục các tội phạm bắt buộc phải tố giác tại Điều 19 và Điều 390;
  • Ý thức chấp hành pháp luật thuế của một bộ phận người dân và doanh nghiệp còn thấp, phổ biến là tình trạng kê khai giá chuyển nhượng bất động sản thấp hơn thực tế (như vụ án tại Thăng Bình, giao dịch thực tế 21 tỷ đồng nhưng hợp đồng chỉ ghi 460 triệu đồng).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp bức tranh số liệu xét xử tội trốn thuế trong 05 năm (2019 - 2023):

  • Tổng số vụ án sơ thẩm TAND các cấp đã thụ lý là 322 vụ với 751 bị can; đã đưa ra xét xử 209 vụ với 426 bị cáo. Năm 2023 ghi nhận số lượng vụ án và bị cáo cao nhất trong vòng 10 năm (kể từ 2013), đạt 81 vụ và 188 bị cáo (tăng 62% số vụ và 116% số bị cáo so với năm 2022).
  • Về hình phạt: Phạt tiền chiếm ưu thế với 167 bị cáo; phạt tù từ 03 năm trở xuống có 87 bị cáo; hình phạt tù từ trên 03 năm đến 07 năm có 28 bị cáo; 128 bị cáo được áp dụng chế định án treo.

Các kiến nghị và giải pháp do tác giả đề xuất:

  • Hoàn thiện lập pháp và ban hành văn bản hướng dẫn thi hành: Ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao giải thích cụ thể các dấu hiệu định tội tại điểm đ, điểm h khoản 1 Điều 200 BLHS; hướng dẫn tiêu chí phân định tội trốn thuế với tội buôn lậu và các tội phạm tài chính khác; sửa đổi, bổ sung Điều 19 và Điều 390 BLHS năm 2015 theo hướng bổ sung tội trốn thuế vào nhóm tội phạm có nghĩa vụ bắt buộc tố giác.
  • Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật: Thực hiện đúng quy định về căn cứ cho hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, tránh áp dụng tràn lan dựa trên các tình tiết nhân thân không phản ánh khả năng cải tạo; tăng cường sự phối hợp liên ngành giữa cơ quan thuế, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế trong xã hội.

Đóng góp của khóa luận: So với các công trình trước đây (nghiên cứu dựa trên BLHS 1999, khảo sát phạm vi hẹp ở một địa phương như Hà Nội của Trần Thị Hoa năm 2015, hoặc số liệu giai đoạn 2011-2016 của Lê Thị Hồng Nhung, giai đoạn 2013-2017 của Trương Văn Tiên), khóa luận của Nguyễn Trần Anh đã cập nhật toàn diện dữ liệu xét xử tội trốn thuế trên quy mô toàn quốc trong giai đoạn 2019 - 2023 theo BLHS năm 2015 sửa đổi 2017, đưa ra những đánh giá xác đáng về việc áp dụng hình phạt và lỗ hổng tố giác tội phạm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Phạm vi nghiên cứu thực tiễn của khóa luận dừng lại ở giai đoạn 2019 - 2023 dựa trên các báo cáo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao và các bản án công khai. Công trình chủ yếu phân tích các vụ án đã được đưa ra xét xử sơ thẩm, chưa bao quát toàn bộ số liệu xử lý ở giai đoạn điều tra, truy tố hoặc các vụ việc trốn thuế mới phát sinh trong lĩnh vực kinh tế số và thương mại điện tử. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng khảo sát các phương thức trốn thuế công nghệ cao, giao dịch xuyên biên giới và cơ chế truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại trong bối cảnh chuyển đổi số.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự, Tố tụng hình sự, Luật kinh tế và Tài chính - Ngân hàng;
  • Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Luật sư tham khảo trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, định tội danh và quyết định hình phạt đối với các vụ án trốn thuế;
  • Các cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý thuế trong việc rà soát kẽ hở pháp lý, hoàn thiện quy định về quản lý thuế và chính sách hình sự đối với tội phạm kinh tế.

Phần nội dung đáng chú ý nhất là hệ thống 09 hành vi khách quan tại Chương 1 gắn liền với các án văn thực tế, cùng 02 bảng số liệu thống kê xét xử và phân tích án treo giai đoạn 2019 - 2023 tại Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Định lượng tiền trốn thuế tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 200 BLHS năm 2015 là bao nhiêu?
Đối với cá nhân, số tiền trốn thuế từ 100.000.000 đồng trở lên (hoặc dưới 100.000.000 đồng nếu đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc có tiền án chưa xóa án tích về tội này hoặc một trong các tội danh kinh tế, sở hữu được liệt kê). Đối với pháp nhân thương mại, số tiền trốn thuế tối thiểu là 200.000.000 đồng (hoặc từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng kèm điều kiện tiền án, tiền sự).

2. Số lượng vụ án và bị cáo về tội trốn thuế được TAND các cấp xét xử giai đoạn 2019 - 2023 biến động như thế nào?
Giai đoạn 2019 - 2023 ghi nhận 209 vụ án và 426 bị cáo được đưa ra xét xử sơ thẩm. Xu hướng xét xử tăng mạnh qua các năm: năm 2019 xét xử 25 vụ (50 bị cáo), năm 2020 là 29 vụ (59 bị cáo), năm 2021 giảm nhẹ còn 24 vụ (42 bị cáo), năm 2022 tăng lên 50 vụ (87 bị cáo), và năm 2023 đạt đỉnh với 81 vụ (188 bị cáo), mức cao nhất trong vòng 10 năm (2013 - 2023).

3. Cơ cấu hình phạt áp dụng cho các bị cáo phạm tội trốn thuế giai đoạn 2019 - 2023 thể hiện đặc điểm gì?
Phần lớn các vụ án thuộc nhóm tội ít nghiêm trọng. Trong tổng số các bị cáo, hình phạt tiền là hình phạt chính phổ biến nhất (167 bị cáo), phạt tù từ 03 năm trở xuống là 87 bị cáo, tù từ trên 03 đến 07 năm là 28 bị cáo, chỉ có 02 bị cáo nhận mức án trên 07 năm tù do tổng hợp hình phạt. Đáng chú ý, có tới 128 bị cáo được cho hưởng án treo, tăng gần gấp đôi so với giai đoạn 2013 - 2017 (65 bị cáo).

4. Khóa luận chỉ ra vướng mắc gì trong việc định tội danh trốn thuế đối với bất động sản đồng sở hữu?
Khi một bất động sản do nhiều cá nhân đồng sở hữu phát sinh hành vi trốn thuế từ việc cho thuê, nếu tính tổng số tiền trốn thuế thì đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng khi phân chia số tiền trốn thuế tương ứng với phần giá trị lợi nhuận của từng chủ thể thì số tiền của mỗi người lại không đủ 100.000.000 đồng. Thực tiễn có trường hợp cơ quan tố tụng quy toàn bộ trách nhiệm cho một cá nhân đại diện thu tiền, dẫn đến nguy cơ oan sai.

5. Vì sao tác giả kiến nghị bổ sung tội trốn thuế vào Điều 19 và Điều 390 BLHS năm 2015?
Điều 19 và Điều 390 BLHS năm 2015 về trách nhiệm không tố giác tội phạm hiện không liệt kê Điều 200 (Tội trốn thuế). Tác giả nhận định sự thiếu sót này làm giảm động lực tố cáo vi phạm của người dân, dẫn đến tình trạng bao che cho hành vi trốn thuế và gây khó khăn cho công tác phát hiện tội phạm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Trần Anh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về cấu thành tội trốn thuế và trách nhiệm hình sự của cá nhân, pháp nhân thương mại theo Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Thông qua phân tích số liệu xét xử thực tế của Tòa án nhân dân các cấp giai đoạn 2019 - 2023 và các án văn điển hình, công trình đã chỉ ra những tồn tại trong việc định tội danh, bất cập trong việc áp dụng chế định án treo, cùng kẽ hở trong quy định tố giác tội phạm. Các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật được đề xuất có giá trị thực tiễn đối với công tác hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả xét xử tội phạm về thuế tại Việt Nam.