Tổng quan nghiên cứu
Thủ đô Hà Nội giữ vai trò là đầu tàu kinh tế và trung tâm giao thương quốc tế trọng điểm của miền Bắc với tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 7,12% mỗi năm trong giai đoạn 2017 - 2019. Trước thời điểm dịch bệnh bùng phát, kim ngạch xuất nhập khẩu của thành phố liên tục ghi nhận những bước tiến vượt bậc, chạm mốc xuất khẩu 16.739 triệu USD vào năm 2019. Tuy nhiên, sự xuất hiện bất ngờ của đại dịch Covid-19 từ cuối năm 2019 và bùng phát mạnh trên toàn cầu vào đầu năm 2020 đã tạo ra cú sốc chưa từng có đối với chuỗi cung ứng toàn cầu, trực tiếp đe dọa hoạt động thương mại quốc tế của Thủ đô.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm tập trung vào việc nhận diện, đo lường và đánh giá sự biến động của dòng chảy thương mại ngoại thương trên địa bàn Hà Nội dưới tác động kép từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu và các biện pháp giãn cách xã hội nghiêm ngặt. Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm rõ bức tranh thực trạng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu theo từng ngành hàng và thành phần kinh tế, đồng thời bóc tách nguyên nhân đứt gãy để kiến tạo hệ thống giải pháp ứng phó đồng bộ. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu toàn diện trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2017 đến hết Quý I năm 2020.
Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp hệ thống bằng chứng thực nghiệm rõ ràng, minh chứng cho sự sụt giảm 18,1% của kim ngạch xuất khẩu và 21,3% của kim ngạch nhập khẩu trong Quý I năm 2020. Công trình không chỉ phản ánh kịp thời mức độ tổn thương của nền kinh tế mà còn đặt nền móng lý luận và thực tiễn để phục hồi năng lực ngoại thương bền vững cho các giai đoạn tiếp theo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng Lý thuyết Lợi thế so sánh của David Ricardo và Lý thuyết Thương mại quốc tế hiện đại của Heckscher - Ohlin để phân tích cơ cấu mặt hàng trao đổi ngoại thương của thành phố Hà Nội. Các mô hình lý thuyết này chỉ rõ rằng mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ sẽ tối ưu hóa nguồn lực bằng cách xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế chi phí sản xuất tương đối như dệt may, nông sản và gia công lắp ráp, đồng thời nhập khẩu các mặt hàng nguyên vật liệu, máy móc thiết bị có hàm lượng công nghệ cao. Bên cạnh đó, khung lý thuyết về sự đứt gãy chuỗi giá trị toàn cầu được tích hợp nhằm phân tích tác động lan truyền của các cú sốc bên ngoài đối với chuỗi cung ứng cục bộ.
Hệ thống khái niệm nền tảng được chuẩn hóa dựa trên Luật Thương mại năm 2005 (Điều 28, Khoản 1) và các thông lệ quốc tế:
- Kim ngạch xuất nhập khẩu: Tổng giá trị tiền tệ quy đổi của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ được trao đổi qua biên giới quốc gia hoặc đưa vào khu vực hải quan riêng biệt trong một chu kỳ nhất định (tháng, quý, năm).
- Hình thức xuất khẩu: Bao gồm xuất khẩu trực tiếp (doanh nghiệp tự chủ ký kết hợp đồng ngoại thương), xuất khẩu ủy thác (thông qua đơn vị trung gian với mức phí dịch vụ thường dao động quanh mức 1% giá trị hợp đồng), gia công xuất khẩu và xuất khẩu tại chỗ nhằm tối ưu hóa chi phí vận tải và thủ tục.
- Hạn ngạch nhập khẩu (Import Quota): Biện pháp phi thuế quan nhằm giới hạn số lượng hoặc giá trị tối đa của một nhóm hàng hóa nhập khẩu trong một thời kỳ cụ thể nhằm bảo hộ sản xuất nội địa.
- Tỷ giá hối đoái: Tỷ lệ trao đổi giữa các đồng tiền, ví dụ tỷ giá USD/VND ở mức khoảng 1 USD tương đương 23.400 VND vào năm 2019, tạo ra tác động trực tiếp đến sức cạnh tranh giá cả của hàng hóa xuất khẩu.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu thứ cấp của nghiên cứu được thu thập từ Niên giám Thống kê thành phố Hà Nội, báo cáo định kỳ của Tổng cục Thống kê, hệ thống dữ liệu quản lý của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội và Cục Hải quan thành phố. Dữ liệu sơ cấp được bổ sung qua quá trình khảo sát thực địa, quan sát trực tiếp quy trình thông quan và phỏng vấn tham vấn ý kiến chuyên gia kinh tế tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội.
Về quy mô và phương pháp chọn mẫu, luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ (complete enumeration) đối với dữ liệu thứ cấp, bao gồm chuỗi thời gian liên tục 39 tháng từ tháng 1 năm 2017 đến hết tháng 3 năm 2020. Mẫu dữ liệu bao quát 100% kim ngạch của 3 khối kinh tế chính (kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) và toàn bộ 12 nhóm ngành hàng xuất nhập khẩu chủ lực trên địa bàn.
Luận văn kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian so sánh liên hoàn và phương pháp tổng hợp logic. Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác xu hướng vận động của các chỉ tiêu tài chính, đồng thời lượng hóa mức độ sụt giảm cơ cấu trước và sau khi đại dịch bùng phát. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý số liệu được tiến hành nghiêm ngặt trong giai đoạn từ năm 2019 đến giữa năm 2020.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, giai đoạn 2017 - 2019 ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ của kim ngạch xuất khẩu Hà Nội với tốc độ tăng trưởng hai con số liên tục. Kim ngạch xuất khẩu năm 2017 đạt 11.779 triệu USD (tăng 10,3% so với năm 2016), năm 2018 đạt 14.233 triệu USD (tăng 21,6%) và năm 2019 đạt đỉnh 16.739 triệu USD (tăng 20,3%). Khu vực kinh tế ngoài nhà nước trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu khi kim ngạch năm 2018 tăng tới 39,5% và năm 2019 tăng 32,9%, chiếm tỷ trọng 59,3% tổng giá trị xuất khẩu toàn địa bàn.
Thứ hai, nhập khẩu duy trì quy mô lớn để phục vụ nhu cầu nguyên liệu và thiết bị phục vụ sản xuất. Năm 2017, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 29.829 triệu USD (tăng 18,2%), năm 2018 đạt 31.187 triệu USD (tăng 8,2%) và năm 2019 đạt 32.228 triệu USD (tăng 4,0%). Trong đó, nhóm máy móc thiết bị phụ tùng đạt 6.174 triệu USD vào năm 2019, đóng vai trò then chốt trong việc hiện đại hóa hạ tầng công nghiệp của Thủ đô.
Thứ ba, sự bùng phát của đại dịch Covid-19 trong Quý I năm 2020 đã tạo ra bước đảo chiều tiêu cực đột ngột. Tổng kim ngạch xuất khẩu Quý I năm 2020 chỉ đạt 2.744 triệu USD, giảm mạnh 18,1% so với cùng kỳ năm 2019 (vốn đạt mức tăng trưởng dương 12,9% trong Quý I năm 2019). Tương tự, kim ngạch nhập khẩu giảm sâu 21,3%, rơi xuống mức 5.832 triệu USD. Riêng trong tháng 3 năm 2020, kim ngạch xuất khẩu giảm 28,5% và nhập khẩu giảm 34,2% so với cùng kỳ năm trước.
Thứ tư, tác động của dịch bệnh mang tính phân hóa sâu sắc giữa các ngành hàng và thành phần kinh tế. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chịu thiệt hại nặng nhất với mức suy giảm xuất khẩu lên tới 28,2% trong Quý I năm 2020, so với mức giảm 9,4% của khối kinh tế trong nước. Ở chiều xuất khẩu, nhóm xăng dầu giảm 36,7%, linh kiện máy tính và thiết bị ngoại vi giảm 32,1%, nông sản giảm 27,9% (trong đó gạo giảm 28,1%, cà phê giảm 27,9%). Điểm sáng tích cực hiếm hoi ghi nhận ở nhóm sản phẩm giày dép da (đạt 60 triệu USD, tăng 5,2%) và hàng gốm sứ (đạt 43 triệu USD, tăng 6,5%).
Thảo luận kết quả
Các số liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua dạng biểu đồ cột kết hợp đường đồ thị, trong đó các cột thể hiện giá trị tuyệt đối của kim ngạch xuất nhập khẩu từng quý và đường đồ thị biểu diễn tốc độ tăng trưởng liên hoàn. Cách biểu diễn này giúp làm nổi bật độ dốc sụt giảm đột ngột tại mốc Quý I năm 2020 so với quỹ đạo tăng trưởng ổn định của 3 năm trước đó. Bên cạnh đó, việc xây dựng bảng ma trận phân loại cơ cấu ngành hàng cho phép nhận diện rõ nét mức độ tổn thương của từng nhóm hàng hóa.
Nguyên nhân cốt lõi của sự suy giảm trong Quý I năm 2020 bắt nguồn từ sự gián đoạn nguồn cung cấp nguyên vật liệu phụ trợ từ các đối tác lớn như Trung Quốc và Hàn Quốc, khiến các doanh nghiệp gia công dệt may và điện tử không đủ vật tư sản xuất. Đồng thời, các biện pháp phong tỏa biên giới tại thị trường Mỹ và các quốc gia châu Âu từ tháng 3 năm 2020 khiến đầu ra xuất khẩu bị đình trệ hoàn toàn. Kết quả này tương đồng với nhận định của chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu về tình trạng mất cân đối ngoại thương nghiêm trọng do tính chất phụ thuộc lớn của nền kinh tế Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, đa dạng hóa thị trường đối tác xuất nhập khẩu và giảm thiểu phụ thuộc chuỗi cung ứng. Sở Công Thương Hà Nội chủ trì phối hợp cùng các hiệp hội doanh nghiệp hỗ trợ kết nối mở rộng thị trường sang khu vực Nam Á, châu Phi và các quốc gia thành viên trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Mục tiêu cụ thể là giảm tỷ trọng phụ thuộc vào một thị trường đơn lẻ xuống dưới mức 20% tổng kim ngạch và nâng tỷ lệ nội địa hóa nguyên phụ liệu lên trên 35% trong giai đoạn 2020 - 2022.
Thứ hai, đẩy mạnh số hóa toàn diện thủ tục hành chính hải quan và cấp chứng nhận xuất xứ. Cục Hải quan thành phố Hà Nội cần nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 cho 100% hồ sơ cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) và thủ tục thông quan hàng hóa điện tử một cửa quốc gia và ASEAN. Mục tiêu là cắt giảm tối thiểu 30% thời gian thông quan hàng hóa và giảm 25% chi phí logistics hành chính cho doanh nghiệp ngay trong năm 2021.
Thứ ba, triển khai các gói hỗ trợ tín dụng, gia hạn thuế và hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp. Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh thành phố Hà Nội và Sở Tài chính cần chỉ đạo các tổ chức tín dụng cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay từ 1,5% đến 2,0% mỗi năm cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu gặp khó khăn do dịch bệnh. Giải pháp này cần hướng tới mục tiêu hỗ trợ kịp thời cho hơn 70% doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn trong suốt các quý còn lại của năm 2020.
Thứ tư, quy hoạch xây dựng các cụm công nghiệp chuyên sâu và phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cần phê duyệt đầu tư xây dựng thí điểm 2 đến 3 cụm công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử và cơ khí chính xác, đồng thời Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai cấp mã số vùng trồng cho 100% diện tích cây nông sản xuất khẩu chủ lực theo tiêu chuẩn quốc tế trong giai đoạn 2021 - 2025.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại các Sở, Ban, Ngành của thành phố Hà Nội (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Cục Hải quan). Luận văn cung cấp bức tranh số liệu định lượng chi tiết về mức độ sụt giảm 18,1% của kim ngạch xuất khẩu để các cơ quan này xây dựng kịch bản điều hành kinh tế vĩ mô và ban hành chính sách hỗ trợ kịp thời.
Thứ hai, ban lãnh đạo các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất gia công, xuất nhập khẩu và dịch vụ logistics. Các nhà quản trị có thể sử dụng các phân tích đứt gãy chuỗi cung ứng linh kiện và biến động thị trường trong tài liệu để tái cấu trúc danh mục khách hàng, phân bổ nguồn cung ứng nguyên phụ liệu và tối ưu hóa phương thức xuất nhập khẩu ủy thác nhằm giảm thiểu rủi ro vận hành.
Thứ ba, các tổ chức hiệp hội ngành nghề như Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Hiệp hội Dệt may, Hiệp hội Nông sản. Luận văn hỗ trợ xây dựng các chương trình đào tạo nghiệp vụ, phổ biến kiến thức về quy tắc xuất xứ hàng hóa và tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại có trọng tâm, giúp hội viên vượt qua khó khăn thị trường.
Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản trị thương mại quốc tế và Kinh tế học ứng dụng. Công trình đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật có giá trị cao về mặt phương pháp luận phân tích tác động của cú sốc y tế - kinh tế toàn cầu lên dòng chảy ngoại thương cấp địa phương.
Câu hỏi thường gặp
Nguyên nhân chính khiến kim ngạch xuất khẩu Hà Nội sụt giảm 18,1% trong Quý I năm 2020 là gì? Sự sụt giảm bắt nguồn từ tác động kép của đại dịch Covid-19 khi các đối tác nhập khẩu hàng đầu như Mỹ (chiếm khoảng 16% thị phần) và Liên minh châu Âu áp dụng lệnh đóng cửa biên giới, đồng thời chuỗi cung ứng vật tư trung gian từ Trung Quốc bị ngưng trệ nghiêm trọng do các biện pháp cách ly kiểm dịch.
Nhóm hàng xuất khẩu nào của Hà Nội chịu tổn thương nặng nề nhất trong Quý I năm 2020? Nhóm hàng xăng dầu chịu tổn thất lớn nhất với mức giảm 36,7% (trong đó tháng 3 giảm tới 59,2%), tiếp theo là linh kiện máy vi tính giảm 32,1%, hàng nông sản giảm 27,9% và máy móc thiết bị giảm 23,2% do nhu cầu tiêu thụ và vận chuyển toàn cầu bị ngưng trệ.
Tại sao khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lại có mức suy giảm xuất khẩu lớn hơn khối trong nước? Khối FDI có kim ngạch xuất khẩu giảm tới 28,2% trong Quý I năm 2020 (so với mức giảm 9,4% của khối trong nước) do các doanh nghiệp FDI phụ thuộc sâu sắc vào mạng lưới cung ứng linh kiện toàn cầu và các hợp đồng đơn hàng xuyên quốc gia, vốn bị đứt gãy tức thì khi dịch bệnh bùng phát.
Có những điểm sáng tăng trưởng xuất khẩu nào được ghi nhận trong thời kỳ đầu bùng phát dịch? Nhóm sản phẩm giày dép da và gốm sứ là hai điểm sáng hiếm hoi khi duy trì mức tăng trưởng dương lần lượt là 5,2% (đạt 60 triệu USD) và 6,5% (đạt 43 triệu USD) trong Quý I năm 2020, nhờ các hợp đồng ký kết từ trước và thị trường ngách ít bị ảnh hưởng trực tiếp trong giai đoạn đầu.
Các chính sách tiền tệ và tỷ giá đã hỗ trợ hoạt động xuất khẩu của thành phố ra sao? Thành phố đã duy trì sự ổn định của thị trường ngoại tệ với tỷ giá USD/VND xoay quanh mức 23.400 VND đổi 1 USD, kết hợp các chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước trong việc cơ cấu thời hạn trả nợ và giảm lãi suất vay để bảo toàn thanh khoản cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
Kết luận
- Kim ngạch xuất khẩu Hà Nội duy trì đà tăng trưởng ấn tượng trong giai đoạn 2017 - 2019, lần lượt đạt 11.779 triệu USD năm 2017, 14.233 triệu USD năm 2018 và 16.739 triệu USD năm 2019.
- Khu vực kinh tế ngoài nhà nước vươn lên thành trụ cột ngoại thương chủ lực với mức tăng trưởng 39,5% trong năm 2018 và 32,9% trong năm 2019, khẳng định tính đúng đắn của chủ trương phát triển kinh tế tư nhân.
- Cú sốc đại dịch Covid-19 trong Quý I năm 2020 đã khiến kim ngạch xuất khẩu giảm 18,1% (đạt 2.744 triệu USD) và kim ngạch nhập khẩu giảm 21,3% (đạt 5.832 triệu USD) do đứt gãy chuỗi giá trị và phong tỏa biên giới.
- Hoạt động ngoại thương bộc lộ rõ các điểm nghẽn cố hữu về sự phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu và thị trường tiêu thụ truyền thống, đặt ra yêu cầu cấp thiết về tái cơ cấu.
- Hệ thống giải pháp đồng bộ về số hóa hải quan trực tuyến mức độ 4, hỗ trợ vốn ưu đãi giảm lãi suất từ 1,5% đến 2,0% và xây dựng cụm công nghiệp phụ trợ là chìa khóa then chốt để phục hồi.
Đóng góp khoa học chính của luận văn là việc hệ thống hóa và phân tích định lượng chuỗi dữ liệu thực tế tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, phản ánh chân thực tác động ban đầu của đại dịch lên ngoại thương Thủ đô. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2021 đến 2025, các cơ quan ban ngành và cộng đồng doanh nghiệp cần khẩn trương hiện thực hóa các giải pháp đa dạng hóa thị trường và số hóa thủ tục để nâng cao sức chống chịu cho nền kinh tế. Hãy chủ động nghiên cứu và khai thác sâu các phát hiện từ công trình này nhằm xây dựng chiến lược kinh doanh và chính sách thương mại hiệu quả trong bối cảnh bình thường mới.