đặt vấn đề và phân tích về khái niệm chất lƣợng tín dụng, ngoài ra đề tài cũng cung cấp cho nhà quản trị ngân hàng một cách nhìn tích cực về vấn đề quản trị chất lƣợng tín dụng trong hoạt động cho vay đối với đối tƣợng khách hàng cá nhân. Đồng thời đề tài nghiên cứu đã cung cấp một số giải pháp đƣợc xem nhƣ là công cụ để nâng cao chất lƣợng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Ngoài Quốc Doanh - Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Đăng Thủy (2014) trong đề tài “Mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng – chi nhánh Đà Nẵng”. Luận văn đã nêu ra những vấn đề lý luận về mở rộng cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại.
Từ đó nghiên cứu thực trạng cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng, những thành quả cùng những tồn tại, tìm ra nguyên nhân của những tồn tại đó. Trên cơ sở đó đƣa ra những giải pháp thiết thực góp phần mở rộng hơn nữa hoạt động mở rộng cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vƣợng - chi nhánh Đà nẵng. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ Ý UẬN VỀ H ẠT ĐỘNG CH V Y KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG ẠI 1. CH V Y ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1.
Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Cho vay khách hàng cá nhân là hình thức tín dụng cấp phát cho cá nhân, hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, nhƣ: nhu cầu mua sắm nhà ở, đồ dùng gia đình, xe cộ, chi phí học hành, giải trí,… 1. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân a. Về mục đích vay Nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân, hộ gia đình. Do đó, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm lý khách hàng và chu kỳ kinh tế của ngƣời đi vay.
Khi nền kinh tế có sự tăng trƣởng cao và ổn định, KHCN sẽ có thái độ lạc quan hơn về tƣơng lai, họ kỳ vọng sẽ có khoản thu nhập nhiều hơn trong tƣơng lai và do vậy sẽ thúc đẩy sự chi tiêu cho tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngƣợc lại, khi nền kinh tế suy thoái ngƣời dân thƣờng có xu hƣớng giảm tiêu dùng, giảm đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh, thay vào đó là sẽ tăng cƣờng tiết kiệm và hạn chế vay mƣợn từ Ngân hàng. Nhu cầu vay của khách hàng thƣờng kém nhạy cảm với lãi suất, thông thƣờng ngƣời đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu. Mức thu nhập và trình độ dân trí là hai nhân tố tác động rất lớn đến nhu cầu vay của khách hàng.
Về qui mô món vay Các khoản vay của cá nhân thƣờng nhỏ hơn rất nhiều so với các khoản vay của doanh nghiệp. 7 Hầu hết các khoản cho vay KHCN có quy mô nhỏ nhƣng số lƣợng khoản vay lớn, do cho vay KHCN đáp ứng nhu cầu của cá nhân và các hộ gia đình nhằm mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ, nên quy mô của một khoản vay tƣơng đối nhỏ so với tài sản của ngân hàng, số lƣợng các khoản vay lại rất lớn do đối tƣợng của cho vay là các cá nhân và các hộ gia đình với số lƣợng nhiều và nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng. Đối tượng cho vay Là các cá nhân và hộ gia đình. Về chi phí quản lý Quy mô món vay nhỏ và số lƣợng KHCN nhiều nên kéo theo các chi phí liên quan đến cho vay thƣờng cao hơn so với KH tổ chức.
Về rủi ro và tài sản bảo đảm khoản vay Cho vay KHCN có mức độ rủi ro lớn và đƣợc coi là tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng. Xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tình trạng sức khoẻ, công việc… Việc thẩm định khả năng trả nợ của các cá nhân hoặc hộ gia đình cũng hết sức khó khăn. Ngoài ra, để có đƣợc khoản vay có nhiều khách hàng giấu các thông tin về tình hình sức khoẻ và công việc trong tƣơng lai của mình nên các ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi cho vay. Do khoản cho vay khách hàng cá nhân có rủi ro cao nhất nên các ngân hàng thƣờng yêu cầu phải có tài sản đảm bảo khi vay và yêu cầu ngƣời vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm cho hàng hoá đã mua.
Lãi suất cho vay Do quy mô của các khoản vay thƣờng nhỏ (trừ những khoản cho vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay (về thời gian, nhân lực đi thẩm định, quản lý các khoản cho vay này) cao đồng thời rủi ro của các khoản vay 8 này cũng rất cao. Do vậy, lãi suất cho vay KHCN thƣờng cao hơn lãi suất các khoản cho vay khác của NHTM. Từ trƣớc đến nay, cho vay KHCN vẫn đƣợc các ngân hàng coi là khoản mục mang lại lợi nhuận khá cao với lãi suất “cứng nhắc”. Điều đó có nghĩa là nó đủ để bù đắp chi phí huy động vốn của ngân hàng, không nhƣ hầu hết các khoản cho vay khác hiện nay với lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trƣờng, nhƣ vậy với cho vay KHCN ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất khi chi phí huy động vốn tăng lên.
Tuy nhiên, các khoản vay này thƣờng đƣợc định giá rất cao (vì đã bao hàm cả một phần bù rủi ro lãi suất) đến mức mà bản thân lãi suất vay vốn trên thị trƣờng lẫn tỷ lệ tổn thất tín dụng phải tăng lên đáng kể thì hầu hết các khoản cho vay KHCN mới không mang lại lợi nhuận. Nguồn trả nợ của khách hàng đƣợc trích từ thu nhập, thu nhập này có thể thay đổi tuỳ theo tình trạng công việc, sức khoẻ của ngƣời vay cũng nhƣ tình hình sản xuất kinh doanh của họ. Những khách hàng có việc làm, mức thu nhập ổn định, có trình độ học vấn hoặc có phƣơng án sản xuất kinh doanh hiệu quả là những tiêu chí quan trọng để ngân hàng thƣơng mại quyết định cho vay. Phân loại cho vay khách hàng cá nhân a.
Căn cứ vào phương thức cho vay * Cho vay từng lần: Là một phƣơng thức cho vay mà mỗi lần vay khách hàng và tổ chức tín dụng làm thủ tục vay vốn cần thiết và kí kết hợp đồng tín dụng. Phƣơng thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu và đề nghị vay vốn từng lần, khách hàng có nhu cầu vay vốn không thƣờng xuyên hoặc khách hàng mà ngân hàng xét thấy cần thiết phải áp dụng cho vay từng lần để giám sát kiểm tra quản lý việc sử dụng vốn vay chặt chẽ an toàn. - Ƣu điểm: Phƣơng thức này là linh hoạt trong quá trình sử dụng vốn của ngân hàng. Khi nào khách hàng có nhu cầu vay vốn, ngân hàng mới xem 9 xét đáp ứng (mỗi lần vay ngân hàng đều định thời hạn cho khoản vay đó, đến thời hạn trả nợ ngƣời vay phải có trách nhiệm trả nợ ngân hàng).
Do đó, qua phƣơng thức cho vay này ngân hàng kiểm tra chặt chẽ đƣợc từng món vay, tính toán đƣợc hiệu quả kinh tế của từng đối tƣợng cho vay từ đó đảm bảo đƣợc khả năng an toàn vốn cho ngân hàng. - Nhƣợc điểm: Cho vay từng lần thủ tục rƣờm rà, phức tạp, gây khó khăn cho ngƣời vay. Mỗi lần vay tiền, ngƣời vay phải làm đơn xin vay gửi tới ngân hàng xem xét quyết định cho vay. + Nếu đối tƣợng vay vốn có vòng quay nhanh thì khách hàng sẽ sử dụng món vay đó vào nhiều mục đích mà ngân hàng không kiểm soát đƣợc điều này gây nên tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau ảnh hƣởng đến việc thu hồi nợ, ảnh hƣởng đến nguồn vốn của ngân hàng.
* Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là cách thức cho vay bằng cách ngân hàng xác định cho khách hàng của mình một hạn mức tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định để làm căn cứ cho việc phát tiền vay. Phƣơng thức này chỉ áp dụng đối với những khách hàng có tình hình sản xuất kinh doanh ổn định vay vốn trả nợ thƣờng xuyên, có tín nhiệm với ngân hàng. Trách nhiệm của kế toán phải theo dõi chặt chẽ dƣ nợ của tài khoản cho vay để dƣ nợ của tài khoản cho vay không vƣợt quá hạn mức tín dụng đã kí kết. - Ƣu điểm: + Trƣớc hết nó tiết kiệm vốn tối đa cho ngƣời vay vì khi mua nguyên liệu hàng hoá thì vay, bán hàng là ghi thẳng vào bên Có để trả nợ không phải vừa vay vừa đọng tiền gửi nhƣ lối cho vay từng lần.
+ Thứ hai là cán bộ ngân hàng dễ nắm tình hình đơn vị vay vì doanh số cho vay thể hiện doanh số mua vào, doanh số thu nợ thể hiện doanh số bán ra. 10 Từ đó biết tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng tƣơng đối chính xác đặc biệt là khả năng tài chính của khách hàng. - Nhƣợc điểm: Do ngân hàng và khách hàng cùng thoả thuận hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định nên ngân hàng luôn phải duy trì một số vốn nhất định để sẵn sàng giải ngân cho ngƣời vay làm cho ngân hàng bị đọng vốn sử dụng, nếu khoản vay lớn có thể dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn của ngân hàng bởi đó là những khoản vốn chết đã không đem lại lợi nhuận cho ngân hàng mà ngân hàng còn phải trả lãi huy động cho những khoản vốn đó. * Cho vay thấu chi: Là hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho khách hàng bằng cách cho phép khách hàng chi tiêu vƣợt 1 số tiền nhất định mà Ngân hàng cấp cho trong tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng, đáp ứng nhu cầu cần tiền nóng của khách hàng.
Vì vậy lãi suất thƣờng cao và tính theo ngày hoặc tháng. Phƣơng thức cho vay theo hạn mức thấu chi thực hiện theo hƣớng dẫn của Tổng giám đốc NHNN Việt Nam. - Ƣu điểm: + Đƣợc phép chi vƣợt mức trên số dƣ trên tài khoản thanh toán + Thấu chi tại tất cả các điểm giao dịch (quầy, ATM) và đơn vị chấp nhận thẻ trên toàn quốc. + Khả năng kiểm soát tức thời hoạt động rút, trả nợ vay bằng iBanking hoặc SMS-Banking.