Chương 1. Cơ sở lý luận về phân tích hoạt động cho vay HKD của NHTM. Phân tích tình hình cho vay HKD tại Agribank Chi nhánh Đà Nẵng. Giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay HKD tại Agribank chi nhánh Đà Nẵng.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Luận văn Thạc sỹ “Mở rộng cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Huyện An Nhơn”, Tác giả Nguyễn Văn Thanh, Đại học Đà Nẵng, 2012. Về mặt lý luận: Luận văn đã hệ thống hóa lý luận về mở rộng cho vay đối với hộ sản xuất (HSX) của NHTM, bao gồm khái niệm về HSX và vai trò của HSX; khái niệm về cho vay HSX, đặc điểm và vai trò của cho vay HSX; 4 các tiêu chí đánh giá mở rộng cho vay HSX và các nhân tố ảnh hƣởng đến việc cho vay. Về mặt thực tiễn: Luận văn đã phân tích thực trạng phát triển cho vay tại Agribank Huyện An Nhơn trong đó nêu rõ quy trình cho vay, kết quả hoạt động cho vay HSX.
Từ đó đƣa ra các giải pháp mở rộng cho vay đối với HSX tại Agribank Huyện An Nhơn. Luận văn Thạc sỹ “Phát triển cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Định”, Tác giả Nguyễn Thị Tuyến, Đại học Đà Nẵng, 2012. Về mặt lý luận: Luận văn đã hệ thống hóa lý luận về phát triển cho vay đối với HSX của NHTM, bao gồm khái niệm về cho vay và đặc điểm cho vay HSX; các tiêu chí đánh giá phát triển cho vay đối với HSX của NHTM và các nhân tố ảnh hƣởng đến cho vay HSX của NHTM. Về mặt thực tiễn: Luận văn đã phân tích thực trạng phát triển cho vay tại HSX tại Agribank Chi nhánh Bình Định trong thời gian 2009 – 2011.
Đánh giá các kết quả đạt đƣợc (những mặt làm đƣợc và những mặt hạn chế). Nêu các giải pháp phát triển cho vay HSX tại Agribank Chi nhánh Bình Định. Luận văn Thạc sỹ “Phát triển cho vay đối với HSX tại các Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế”, Tác giả Trần Thị Thu Hiền, Đại học Đà Nẵng, năm 2011. Về mặt lý luận: Luận văn đã hệ thống hóa lý luận về hoạt động cho vay của ngân hàng và HSX của NHTM, bao gồm khái niệm về hoạt động cho vay của ngân hàng; khái niệm về HSX và phân loại HSX; đặc điểm cho vay HSX của NHTM, tiêu chí đánh giá phát triển cho vay HSX và các nhân tố ảnh hƣởng đến việc cho vay HSX.
Luận văn cũng đƣa ra những kinh nghiệp thực tiễn trong cho vay HSX của một số TCTD trong và ngoài nƣớc. Về mặt thực tiễn: Điểm mới so với các luận văn thạc sỹ khác là tác giả 5 đã phân tích thực trạng phát triển cho vay HSX tại 3 Chi nhánh Agribank Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên (ba tỉnh này có những đặc điểm cơ bản tƣơng đồng trong việc phát triển cho vay HSX), từ đó so sánh kết quả đạt đƣợc giữa ba Chi nhánh và rút ra những nhận định. Qua việc phân tích, tác giả đã đƣa ra các hƣớng giải pháp nhằm thúc đẩy việc tăng trƣởng cho vay HSX tại cả 3 Chi nhánh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Do cùng là đề tài cho vay hộ sản xuất kinh doanh nên đề tài “Phân tích tình hình cho vay HKD của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Đà Nẵng” kế thừa hệ thống cơ sở lý luận về cho vay HKD của các Luận văn trên.
Tuy nhiên, do là đề tài “phân tích tình hình cho vay”, chứ không phải là đề tài “mở rộng” hay “phát triển”, vì vậy trong khi các bài Luận văn ở trên tập trung đi sâu vào hƣớng giải pháp, mở rộng để nâng cao,phát triển tình hình cho vay hộ, thì Luận văn “Phân tích tình hình cho vay HKD của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Đà Nẵng” tập trung vào việc phân tích các đặc điểm, tình hình hoạt động cho vay của Chi nhánh, dựa vào các số liệu phân tích để đánh giá những điểm mạnh cũng nhƣ những hạn chế trong cho vay HKD, từ đó đề xuất các hƣớng giải pháp nhằm giải quyết những hạn chế trong hoạt động cho vay của Agribank Chi nhánh Đà Nẵng. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NHTM 1. Tổng quan về hoạt động cho vay của NHTM a.
Khái niệm cho vay Cho vay là “một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [6]. Nhƣ vây, cho vay là một trong các hình thức của hoạt động cấp tín dụng trong ngân hàng. Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, mà trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là ngƣời đi vay vừa là ngƣời cho vay hay nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Cấp tín dụng là “việc thỏa thuận của tổ chức, cá nhân dƣới thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho ngƣời gửi tiền theo thỏa thuận” [9].
Phân loại hoạt động cho vay của NHTM (i) Căn cứ vào thời hạn: - Cho vay ngắn hạn “là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng”, đƣợc sử dụng để cho vay bổ sung vốn lƣu động tạm thời của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cá nhân. - Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 7 tháng đến 60 tháng. Mục đích của cho vay trung hạn thƣờng là để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh. - Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên, đƣợc sử dụng để cấp vốn cho các doanh nghiệp, HKD nhằm đáp ứng các nhu cầu nhƣ: xây dựng cơ bản, đầu tƣ xây dựng xí nghiệp mới, cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất [6].
(ii) Căn cứ vào tính chất luân chuyển vốn: - Cho vay vốn lƣu động: là khoản vay nhằm đáp ứng toàn bộ nhu cầu dự trữ hàng tồn kho, có đặc điểm gần giống với cho vay mua hàng dự trữ. Loại hình cho vay này nhằm bù đắp toàn bộ nhu cầu vốn lƣu động thiếu hụt của khách hàng (nhu cầu vốn lƣu động thời vụ cho khách hàng). Đặc điểm của cho vay vốn lƣu động: đối tƣợng cho vay là toàn bộ nhu cầu vốn lƣu động thiếu hụt, HMTD là cơ sở để ngân hàng cho vay và giải ngân. Và không có kỳ hạn cụ thể cho từng lần giải ngân mà chỉ có thời hạn cho vay cuối cùng và các điều kiện sử dụng vốn vay.
Chi phí của món vay gồm có chi phí trả lãi và chi phí ngoài lãi nhƣ phí cam kết sử dụng hạn mức. Thời hạn cho vay tùy theo đặc điểm về chu kì sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của từng loại khách hàng, có thể là vài ngày đến 1 năm. - Cho vay vốn cố định: là loại hình cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cố định kịp thời theo tiến độ thực hiện dự án để đầu tƣ mới, mở rộng hoạt động, tạo đòn bẩy cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Thời hạn cho vay đa dạng (từ cho vay ngắn hạn đến cho vay dài hạn).
Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu nợ an toàn hơn, trong trƣờng hợp nguồn thu nợ theo phƣơng pháp truyền thống không đạt kết quả khả quan. TSBĐ tiền vay là tài sản của khách hàng vay, của bên bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bao gồm: tài sản thuộc quyền sở hữu, giá trị quyền sử dụng đất của khách hàng vay, của bên bảo lãnh; tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của khách hàng vay, của bên bảo lãnh là doanh nghiệp nhà nƣớc; tài sản hình thành từ vốn vay [3]. - Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, cho vay tín chấp: là các khoản cho vay mà ngân hàng không nắm giữ tài sản của ngƣời đi vay để xử lý nhằm thu hồi nợ mà thay vào đó là điều kiện ràng buộc khác khi ký hợp đồng tín dụng. Những điều kiện khác có thể là: ngƣời đi vay không đƣợc giao dịch với ngân hàng nào khác, hoạt động kinh doanh của ngƣời đi vay phải đƣợc ngân hàng quản lý; hoặc các điều kiện khác nhƣ phƣơng án kinh doanh mang tính khả thi, có khả năng đem lại lợi nhuận cao, khách hàng vay phải kinh doanh có lãi trong hai năm liền kề thời điểm vay vốn; cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu nếu sử dụng vốn vay không đúng theo cam kết của hợp đồng tín dụng.
Những điều kiện trên nhằm giúp cho ngân hàng quản lý đƣợc tình hình tài chính của khách hàng. Thông thƣờng chỉ có những khách hàng có quan hệ lâu năm với ngân hàng, có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả hoặc những khách hàng uy tín, những khách hàng mà ngân hàng có tham gia góp vốn vào thì mới đƣợc hƣởng chế độ cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Hiện nay, các NHTM Việt Nam đang áp dụng Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của 9 Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Cả 2 Nghị định đều không nêu rõ quy định cụ thể về việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
(iv) Căn cứ vào mối quan hệ giữa các chủ thể - Cho vay trực tiếp: khách hàng trực tiếp đến ngân hàng và xin vay vốn. Sau khi chấp thuận đơn xin vay vốn và ký hợp đồng tín dụng, ngân hàng trực tiếp chuyển giao tiền cho khách hàng sử dụng dựa trên cơ sở những điều kiện mà hai bên cùng thỏa thuận. Đây là phƣơng thức vay phổ biến nhất đƣợc các ngân hàng áp dụng đối với việc cho vay HKD.