Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP QUY MÔ VỪA VÀ NHỎ TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM 1. Khái quát về doanh nghiệp SME và hoạt động phân tích tài chính của SME trong hoạt động tín dụng của NHTM 1. Khái niệm doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ (SME) 1. Khái niệm doanh nghiệp SME Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy đinh của pháp luật có tài sản và tên riêng, có trụ sở kinh doanh cụ thể; được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa phân loại dựa theo quy mô tổng nguồn vốn của từng doanh nghiệp hoặc số lao động bình quân năm (trong đó nguồn vốn là tiêu chí được ưu tiên).
Đặc điểm doanh nghiệp SME Về điều kiện thành lập: dễ dàng vì không đòi hỏi nhiều vốn, số lượng lao động không nhiều, chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng thấp. Vì vậy, các doanh nghiệp SME thường gặp thuận lợi hơn trong việc thâm nhập thị trường mới, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới hoặc những mặt hàng có tỷ suất lợi nhuận cao. Về tính linh hoạt: một trong những lợi thế của DN SME là tính linh hoạt cao trong chuyển đối sản xuất kinh doanh. Nhờ tính linh hoạt này mà các DN SME dễ lấp các khoảng trống thị trường, có khả năng chống đỡ được những cú sốc của khủng hoảng kinh tế.
Chẳng hạn, lựa chọn những ngành nghề kinh doanh thiết yếu như thực phẩm, y tế, may mặc - ngành ít bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế thị trường. Về qui mô vốn: các DN SME có quy mô nguồn vốn nhỏ, họ gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn chính thức, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Điều này là một cản trở không nhỏ trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ. Khó giảm chi phí sản xuất, kinh doanh bằng cách tận dụng lợi ích kinh tế nhờ quy mô Dựa trên quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong BCĐKT của doanh nghiệp) và số lượng lao động (tiêu chí về tổng nguồn vốn được ưu tiên hơn).
Theo quy định 56/2009/NĐ-CP cụ thể như sau: 5 Bảng 1.1: Phân loại quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ Qui mô Khu vực DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Số lao động Tổng nguồn Số lao động Tổng nguồn Số lao vốn vốn động (SLĐ) Nông, lâm ≤ 10 người ≤ 20 tỷ đồng 10< 20 tỷ < vốn 200< nghiệp và SLĐ≤200 ≤ 100 tỷ SLĐ≤ 300 thủy sản người người Công ≤ 10 người ≤ 20 tỷ đồng 10<SLĐ≤ 20 tỷ < vốn 200< nghiệp và 200 người ≤ 100 tỷ SLĐ≤ 300 xây dựng người Thương ≤ 10 người ≤ 10 tỷ đồng 10<SLĐ≤ 10 tỷ < vốn 50< SLĐ≤ mại và dịch 50 người ≤ 50 tỷ 100 người vụ Nguồn: Nghị định số 39/2018/NĐ-CP của Chính Phủ về phân loại quy mô DN Bên cạnh những doanh nghiệp lớn là sự nở rộ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Theo thống kê mới nhất năm 2021, tại Việt Nam có đến trên 97% là doanh nghiệp SME trong đó có gần 60% doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ. Trong đó, các DN siêu nhỏ chiếm tới 66,84% tổng tỷ trọng cơ cấu DN thể hiện tầm quan trọng của nhóm DN này trên thị trường tại Việt Nam. Về rủi ro: những rủi ro mà của DN SME tập trung chủ yếu là trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp còn hạn chế, thiếu nhân viên có kĩ năng, mức độ cạnh tranh cao, dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thị trường dẫn đến các rủi ro liên quan đến giải thể.
Thiếu thông tin thị trường, khó tham gia vào chuỗi thị trường của các ngành hàng nên khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính doanh nghiệp là công việc bắt buộc và cần thiết đối với các nhà đầu tư, nhà quản lý tài chính công ty, các nhà phân tích và thẩm định tài chính 6 khách hàng. Mục đích chủ yếu là thông qua phân tích tài chính để dự đoán gần đúng hoặc chính xác thực trạng sức khỏe tài chính, xác định các rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp trong tương lai. Từ đó giúp đối tượng phân tích nắm bắt được thực trạng tài chính để có các quyết định chính xác nhất.
Lê Thị Xuân và các cộng sự cho rằng: “Phân tích tài chính doanh nghiệp là một quá trình kiểm tra, xem xét các số liệu về tài chính hiện hành và trong quá khứ của doanh nghiệp nhằm mục đích đánh giá thực trạng tài chính, dự tính các rủi ro và tiềm năng tương lai của một doanh nghiệp, trên cơ sở đó giúp nhà phân tích có các quyết định tài chính có liên quan đến lợi ích của họ trong doanh nghiệp đó” Nhìn chung để đạt được mục tiêu phân tích cần có sự hiểu biết về các công cụ, kỹ thuật, các phương pháp phân tích… sử dụng linh hoạt và hiệu quả các phương pháp phân tích, xử lý hiệu quả nguồn thông tin và đáng tin cậy để có những đánh giá về kết quả, tìm thấy xu hướng cũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp, thấy được điểm mạnh, yếu về tình hình tài chính cũng như đo lường trước mức độ rủi ro tương lai của doanh nghiệp. Mục tiêu của công tác phân tích tài chính khách hàng SME trong hoạt động tín dụng của NHTM Phân tích tài chính khách hàng là công tác không thể thiếu trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng dù là khách hàng cá nhân hay khách hàng doanh nghiệp. Việc tiến hành phân tích tài chính khách hàng đối với các NHTM nhằm mục tiêu như sau: Thứ nhất, giúp xác định khả năng của khách hàng bao gồm: khả năng thanh toán, khả năng sinh lời trong tương lai; làm cơ sở để hạn mức tín dụng, thời hạn cấp.… Thứ hai, giúp NHTM đưa ra những quyết định đúng đắn trong các hoạt động tín dụng đối với đối tượng cung cấp tín dụng. Thứ ba, giúp NHTM xác định và lường trước được các rủi ro liên quan đến đối tượng cung cấp tín dụng trong tương lai.
Vai trò của công tác phân tích tài chính khách hàng SME trong hoạt động tín dụng của NHTM Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: việc phân tích tài chính giúp đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý doanh nghiệp giai đoạn trong quá khứ, đánh giá về khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính trong hoạt động của DN; đảm bảo cho các quyết định của Ban giám đốc về đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế của DN; cung cấp thông tin cần thiết cho những dự đoán tài chính; cung cấp các căn cứ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lý doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu tư: các nhà đầu tư là những cổ đông, cá nhân, các đơn vị, doanh nghiệp khác… họ góp vốn để được quyền quản lý, được hưởng quyền cũng như chấp nhận rủi ro. Mối quan tâm trực tiếp của họ là giá trị lợi nhuận mà họ nhận được từ doanh nghiệp. Như vậy, phân tích tài chính DN đối với các nhà đầu tư là để đánh giá DN và ước tính giá trị cổ phiếu, khả năng sinh lời, phân tích rủi ro… Đối với các nhà cung cấp tín dụng: quyết định cung cấp tín dụng hay không? Cấp tín dụng ngắn hạn hay dài hạn, đối tượng vay có nhu cầu thực sự sử dụng vốn không, vốn vay sử dụng có đúng mục đích không cũng như khả năng chi trả khoản vay của đối tượng vay như thế nào? Nhìn chung, đối với người cho vay việc phân tích tài chính doanh nghiệp là rất quan trọng.
Bởi nó giúp đánh giá khả năng trong tương lai của đối tượng đi vay cũng như những rủi ro đi kèm. Đối với các cơ quan Nhà nước như Bộ Tài chính, Quản lý thị trường… thực hiện nhiệm vụ quản lý, giám sát nền kinh tế là đối tượng quản lý mọi diễn biến cũng như hoạt động của doanh nghiệp đều được phản ánh qua dòng di chuyển các nguồn lực tài chính từ bên ngoài vào doanh nghiệp và từ doanh nghiệp ra ngoài thị trường Các đối tượng bên ngoài khác: nhóm này bao gồm các nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh, các cơ quan truyền thông đại chúng… họ cũng rất quan tâm đến kết quả phân tích tài chính DN với những mục tiêu riêng. Quy trình phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ trong hoạt động tín dụng tại NHTM. Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp là hoạt động hết sức phức tạp, liên quan đến nhiều người, nhiều bộ phận bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp.
Để có được thông tin hữu ích cho việc ra quyết định tài chính, công tác phân tích tài chính cần được tổ chức một cách kỹ lưỡng và khoa học. Mỗi đối tượng phân tích khác nhau có thể có một quy trình phân tích khác nhau, với yêu cầu và mục tiêu khác nhau sẽ dẫn đến các quyết định tài chính khác nhau. Dưới đây là một số bước trong quy trình phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp, bao gồm: lập kế hoạch phân tích, thu thập và xử lý thông tin, xác định các biểu hiện đặc trưng, phân tích và tổng hợp dự đoán. Lập kế hoạch phân tích tài chính doanh nghiệp Lập kế hoạch phân tích là xác định trước về nội dung, phạm vi, thời gian và cách thức tổ chức phân tích, cụ thể như sau: - Nội dung phân tích cần xác định rõ các vấn đề cần được phân tích: có thể toàn bộ hoạt động tài chính hoặc chỉ một số vấn đề cụ thể - Phạm vi phân tích có thể là toàn đơn vị hoặc một số đơn vị được chọn làm tiêu điểm để phân tích, tùy thuộc vào yêu cầu và mục tiêu phân tích mà phạm vi phân tích lựa chọn là khác nhau - Thời gian cho kế hoạch phân tích bao gồm từ thời gian chuẩn bị đến khi thực hiện công tác phân tích Trong kế hoạch phân tích, trách nhiệm của cán bộ trực tiếp thực hiện công tác phân tích và đội ngũ phục vụ thu thập, đánh giá ý kiến cũng hết sức quan trọng 1.
Thu thập thông tin và xử lý thông tin Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông tin bao gồm cả thông tin bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, thông tin số lượng và thông tin chất lượng, những thông tin lượng hóa được và thông tin không lượng hóa được liên quan trực tiếp đến các mục đích phân tích.