Chương 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU Chương này luận văn sẽ trình bày lý do chọn đề tài “Phân tích tác động của du lịch quốc tế đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam”; tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước; mục tiêu nghiên cứu; đặt ra những câu hỏi cần nghiên cứu; giới thiệu sơ lược về phương pháp nghiên cứu; cuối cùng là xác định đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu phù hợp với luận văn.1 Lý do chọn đề tài Tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia thường đi liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặc biệt là cơ cấu ngành kinh tế theo hướng giảm tỉ trọng nhóm ngành nông-lâm-ngư nghiệp chuyển sang nhóm ngành công nghiệp và tiếp theo là dịch vụ. Các nước có nền kinh tế phát triển có tỉ trọng đóng góp của nhóm ngành dịch vụ thường là cao nhất (như các nước thuộc EU, Bắc Mỹ, Đông Á…). Trong nhóm ngành dịch vụ, du lịch đã và đang có vai trò rất quan trọng trong đóng góp vào phát triển kinh tế không chỉ với các nước phát triển mà cả với những nước đang phát triển như Việt Nam. Du lịch phát triển thúc đẩy các ngành kinh tế hỗ trợ phát triển theo như giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, dịch vụ tài chính, dịch vụ lưu trú ăn uống.
Du lịch phát triển cũng mang lại một thị trường tiêu thụ hàng hóa rộng lớn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng nhanh hơn tổng sản phẩm nền kinh tế. Đối với Việt Nam, du lịch được xem là ngành kinh tế mũi nhọn, được chú trọng đầu tư, không ngừng phát triển và có những đóng góp tích cực vào nền kinh tế quốc gia. Việt Nam cũng là quốc gia được đánh giá cao về tiềm năng du lịch khi sở hữu nhiều bãi tắm chuẩn quốc tế, nhiều di sản UNESCO và là điểm đến được nhiều người lựa chọn. Chỉ trong giai đoạn 2001-2019, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng 7,7 lần từ 2.008 triệu lượt khách.
Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001-2019 cũng đã 2 có nhiều bước tiến lớn khi GDP tăng gần 12,5 lần từ 481.295 tỉ đồng năm 2001 lên 6. Tuy nhiên, đóng góp của du lịch quốc tế cho ngành du lịch nói riêng và tăng trưởng kinh tế cho Việt Nam nói chung vẫn chưa thực sự ấn tượng khi khách quốc tế đến Việt Nam chỉ chi tiêu 117 USD một ngày trong khi Thái Lan là 196 USD và Singapo là 325 USD (số liệu Tổng cục thống kê năm 2019). Trong những năm gần đây, đã có các nghiên cứu về tác động của du lịch quốc tế đến tăng trưởng quốc tế bằng các mô hình tự hồi quy đa biến VAR/VECM; mô hình Input-output; mô hình OLS…Tuy nhiên mô hình VAR/VECM được sử dụng nhiều nhất và được đánh giá cao nhất trong nhóm các mô hình trên. Quan tâm đến vấn đề du lịch quốc tế, các nghiên cứu thực nghiệm đã sử dụng mô hình VAR/VECM để ước lượng như Ohlan.N và cộng sự (2013), Tang.E và cộng sự (2008).
Mặc dù các nghiên cứu về tác động của du lịch/du lịch quốc tế đến tăng trưởng kinh tế đã được thực hiện ở nhiều quốc gia nhưng ở Việt Nam những nghiên cứu cùng mối quan tâm vẫn chưa nhiều đặc biệt là nghiên cứu về giai đoạn những năm 2001-2019. Từ yêu cầu của thực tiễn cần phân tích được tác động của du lịch quốc tế đến Việt Nam và từ đó đưa ra được hàm ý chính sách, tác giả đã lựa chọn “Phân tích tác động của du lịch quốc tế đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam” làm đề tài luận văn.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong phần này, tác giả nghiên cứu một số đề tài thực nghiệm trước đây ở phạm vi trong nước và ngoài nước có cùng mối quan tâm về tác động của du lịch/du lịch quốc tế đến tăng trưởng kinh tế. Từ kết quả đã tổng hợp, tác giả sẽ đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại để tìm ra khoảng trống nghiên cứu.1 Nghiên cứu nước ngoài 3 Balaguer,J. (2002), nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu để kiểm tra xem du lịch có phải là một yếu tố dẫn đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn ở Tây Ban Nha hay không? Thông qua phương pháp kiểm định đồng liên kết và nhân quả Granger nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu 3 biến số GDP, doanh thu du lịch quốc tế và tỉ giá thực và thu được kết quả chứng minh rằng trong ít nhất ba thập kỉ tăng trưởng kinh tế ở Tây Ban Nha là nhờ có sự đóng góp tích cực từ sự mở rộng liên tục của du lịch quốc tế.
Phân tích thực nghiệm trên cũng đã chỉ ra những tác động tích cực đối với chính phủ cũng có nguồn gốc từ doanh thu du lịch quốc tế. Paresh Kumar Narayan (2004) nghiên cứu tác động kinh tế của du lịch đến kinh tế của Fuji (Nhật Bản). Bằng việc sử dụng mô hình cân bằng tổng thể và nghiên cứu các biến số GDP, doanh thu du lịch quốc tế trong gia đoạn 1970-1990, tác giả đã chỉ ra được chi tiêu du lịch ở Fuji tăng 10% sẽ làm tăng GDP thêm 0,5% và góp phần cải thiện cán cân thanh toán, tiêu dùng thực tế tăng 0,72% và phúc lợi quốc gia thực tế tăng 0,67%. Nghiên cứu cũng cho thấy việc mở rộng du lịch sẽ dẫn đến việc tăng tỉ giá hối đoái và gia tăng xuất khẩu phi truyền thống nhưng lại làm giảm xuất khẩu truyền thống.
Nikolaos Dritsakis (2004) tiến hành một cuộc điều tra thực nghiệm đối với Hy Lạp bằng mô hình hồi quy đa biến (VAR) để kiểm tra tác động của du lịch đối với tăng trưởng kinh tế. Mô hình phân tích 3 biến là tổng sản phẩm quốc nội, tỉ giá hối đoái thực và thu nhập từ du lịch quốc tế và dữ liệu hàng năm được thu thập trong giai đoạn 1960- 2000. Kết quả cho thấy có mối quan hệ đồng liên kết giữa thu nhập từ du lịch quốc tế và tăng trưởng kinh tế trong cả ngắn hạn và dài hạn. Hyun Jeong Kim và cộng sự (2006) nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa mở rộng du lịch và tăng trưởng kinh tế ở Đài Loan.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm 4 định nhân quả Granger theo cách tiếp cận đồng liên kết với hai biến số doanh thu du lịch và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1987-2000. Kết quả kiểm tra cho thấy có mối quan hệ nhân quả giữa hai biến số du lịch và tăng trưởng kinh tế trong dài dài hạn. Nói cách khác tại Đài Loan, du lịch và tăng trưởng kinh tế củng cố lẫn nhau trong dài hạn. Dominic Skerritt và Twan Huybers (2007) đã nghiên cứu thực nghiệm tác động kinh tế của du lịch quốc tế đến 37 nền kinh tế đang phát triển giai đoạn 1985-2002.
Mô hình được sử dụng để phân tích là hàm phân tích tổng hợp. Kết quả phân tích cho thấy du lịch quốc tế có tác động tích cực lên GDP bình quân đầu người. Lau,E và cộng sự (2008), đã tiến hành nghiên cứu nhằm mục đích điều tra tình trạng nghèo khó và mối quan hệ nhân quả giữa lượng khách du lịch quốc tế và tăng trưởng kinh tế ở tỉnh Sarawak (Indonesia) trong giai đoạn 1972-2004 bằng mô hình VECM, phương pháp đồng liên kết và kiểm định nhân quả Granger. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy rõ ràng có mối quan hệ nhân quả giữa lượng khách du lịch quốc tế và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Kết quả đã chứng minh du lịch chính là nguồn tạo ra thu nhập cho Sarawak và phát hiện này phù hợp với các lý thuyết kinh tế đồng thời là cơ sở để đưa ra các chính sách quan trọng.C và cộng sự (2008), thực hiện khảo sát các mối quan hệ nhân quả giữa chi tiêu du lịch, tỉ giá hối đoái thực và tăng trưởng kinh tế ở Mexican bằng việc sử dụng dữ liệu hàng quý giai đoạn 1995-2005 và phương pháp đồng liên kết kết hợp kiểm định nhân quả Granger. Nghiên cứu đã chỉ ra có một vec tơ đồng liên kết giữa GDP thực, chi tiêu du lịch và tỉ giá hối đoái thực trong độ co giãn tương ứng là dương. Giả thiết tăng trưởng do du lịch dẫn đầu được chứng minh thông qua kiểm tra đồng liên kết và quan hệ nhân quả. Phân tích cho thấy cú sốc trong chi tiêu du lịch tạo ra tác động tích cực liên tục đến tăng 5 trưởng trong khi cú sốc tỉ giá hối đoái thực tạo ra tác động tiêu cực đầu tiên sau đó là tác động tích cực.A và cộng sự (2009) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa du lịch quốc tế và tăng trưởng kinh tế ở Nam Phi bằng mô hình tự hồi quy đa biến (VAR) và phương pháp kiểm định nhân quả Granger.
Dữ diệu được thu thập ở Nam Phi trong giai đoạn 1980-2005 với các biến số: tổng sản phẩm quốc nội thực tế (GDP thực), thu nhập từ du lịch quốc tế và tỉ giá hối đoái thực. Trọng tâm của nghiên cứu là chứng minh hướng quan hệ nhân quả giữa thu nhập từ du lịch quốc tế và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn còn các biến số khác sử dụng phân tích quan hệ nhân quả Granger. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ nhân quả một chiều chạy từ thu nhập du lịch quốc tế đến tăng trưởng kinh tế thực tế cả trong ngắn hạn và dài hạn. Mounir Belloumi (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa doanh thu du lịch quốc tế, tỉ giá hối đoái thực và tăng trưởng kinh tế ở Tunisia.
Nghiên cứu sử dụng kiểm định đồng liên kết và kiểm định nhân quả Granger đồng thời thu thập dữ liệu hàng năm của Tunisia trong giai đoạn 1970-2007 với ba biến số là GDP thực, doanh thu du lịch quốc tế và tỉ giá hối đoái thực. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy có mối quan hệ đồng liên kết giữa du lịch và tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra kết quả kiểm định nhân quả Granger còn chỉ ra rằng du lịch có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong cả ngắn hạn và dài hạn. (2010), đã tiến hành xem xét mối quan hệ nhân quả giữa du lịch và tăng trưởng kinh tế ở Jordan.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu hàng năm trong khoảng thời gian 1970-2009 cho các biến số GDP và doanh thu du lịch quốc tế. Các kĩ thuật chuỗi thời gian được sử dụng để 6 phát triển nghiên cứu là Augmented Dickey-Fuller (ADF) cho đơn vị gốc, Johanson và Juselius (JJ) cho kiểm định đồng liên kết và kiểm tra quan hệ nhân quả Granger cho các mối quan hệ nhân quả. Các phát hiện của nghiên cứu cho thấy rằng có một mối quan hệ giữa phát triển du lịch và phát triển kinh tế trong dài hạn.