CHƯƠNG I. TRƯỚC TÁC CỦA PHAN HUY CHÚ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NỬA CUỐI THẾ KỶ XVIII NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX.1 Phan Huy Chú và ảnh hưởng của truyền thống gia đình đến sự nghiệp trước tác của ông.Vài nét về tác giả. Khi nói đến giai đoạn cuối thế kỷ 18 đầu 19 đến dòng họ Phan chúng ta không thể không nói đến một người đã làm dạng danh dòng họ của mình đồng thời cũng làm dạng danh cho nền văn hóa dân tộc, đó là Phan Huy Chú. Ông sinh vào mùa đông năm Nhâm Dần 1782, lúc đầu tên là Hạo sau đổi thành Chú tự là Lâm Khanh hiệu Mai Phong.
Ông có nguồn gốc ở Nghệ An, sau di cư đến Sài Sơn, còn gọi là làng thày thuộc phủ Quốc Oai, Hà Tây nay thuộc Hà Nội. Phan Huy Chú sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống khoa cử, cho nên ông có đủ điều kiện để học tập và nhờ vào sự giáo dục rèn luyện nghiêm túc của gia đình đặc biệt là sớm được tắm mình trong kho tàng sách vở mà gia đình bao đời lưu giữ được nên ngay từ nhỏ đã nổi tiếng khắp vùng Quốc Oai, Sơn Tây là người thông minh học giỏi. Cha ông đã có những vần thơ miêu tả nét thanh tú của ông: “Mặt đẹp mày thanh khác trẻ thường, Phúc ấm đúc nên hòn ngọc báu Giống dòng bồi mãi nếp thư hương” Là một người tài năng, giỏi dang, nhưng hai lần đi thi ông chỉ đỗ tú tài, hơn nữa ông là người làng Thầy nên người ta gọi ông là kép Thầy. Ở trong lịch sử triều đại phong kiến thì thường những người đỗ cao mới được ra làm quan nhưng với hiện tượng Phan Huy Chú thì khác .Tuy không đỗ cao nhưng thực học thực tài của ông thì ai ai cũng biết.
Đến năm ( 1821) Minh Mạng biết tiếng nên đã cho triều 6 Phan Huy Chú vào kinh giữ chức biên tu ở viện hàn lâm, cũng năm ấy ông đã dâng bộ sách lịch triều hiến chương loại chí, bộ sách sử có tính chất tổng hợp mà ông đã dày công nghiên cứu trong suốt mười năm từ năm 27 tuổi cho đến năm 37 tuổi. Năm 1825 ông được xung vào xứ bộ Trung Quốc làm phó đoàn đi sứ. Năm 1828 thăng phủ thừa phủ thừa thiên, năm sau tức năm 1829 được điều làm hiệp trấn Quảng Nam sau đó lại bị giáng chức. Năm 1831 ông lại được cử làm phó đoàn sang sứ Trung quốc lần thứ 2, lần này đi sứ tâm trạng Phan Huy Chú cũng chẳng lấy gì làm vui, trong bài tựa của tập thơ làm khi đi sứ có ghi : “ Ta lần này đội ơn được trát lại vâng đi sứ khi nghe lệnh giật mình kinh hãi thật là ngoài ý liệu tính…”.
Khi trở về ông bị cắt chức. Năm 1832 ông lại bị Minh Mệnh bắt đi hiệu lực ở Giang Lưu Ba thuộc Inđônêxia. Trong đại nam thực lục chính biên có chép: “năm 1832 sai Phan Mâu, Nguyễn Tiến Khoan, Nguyễn Văn Chất dem theo mấy viện binh bị cắt chức là Hoàng Văn Đản , Phan Huy Chú và Trương Hảo Hợp chia nhau cưỡi ba chiếc thuyền lớn Phấn Bằng, Thụy Long và An Dương đi công cán ở Giang lưu ba.” Và sau chuyến đi này trở về ông được khôi phục giữ chức tư vụ bộ công. Làm được một thời gian ông cảm thấy nơi quan trường có nhiều điều ngang trái, nhiều đổi thay khiến bản thân mình mệt mỏi chán ngán, nên ông bèn lấy cớ đau yếu xin về quê dạy học và sau mất tại quê nhà năm (1782 ).
Mộ của ông được chôn ở xã Thanh Mai, huyện Tiên Phong, Sơn Tây, hiện nay là xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, Hà Nội. Có lẽ khi nói về tiểu sử và cuộc đời làm quan của con người này cũng thật đơn giản và ngắn gọn. Hai lần đi thi đỗ tú tài, hai lần đi sứ Trung Quốc và một lần đi hiệu lực. Vài lần làm quan, rồi bị cắt chức rồi lại làm quan…chỉ vậy thôi cũng đủ thấy sự long đong của cuộc đời Ông.
Song để đi tìm hiểu lý do tại sao khi mà một con người tài giỏi như Phan Huy Chú mà con đường hoạn lộ của ông lại gập ghềnh chắc trở, đi thi thì đỗ không cao, khi làm quan thì lúc thăng lúc giáng, nhưng con đường nghệ thuật của ông thì lại làm dạng danh tên tuổi của ông đến muôn đời sau ? Nguyên do thì rất nhiều nhưng chúng ta có thể điểm qua một số yếu tố dưới 7 đây, rất có thể đây chỉ là những nhận định trên cơ sở những yếu tố xã hội. Trong xã hội phong kiến thì thi cử đã trở thành phương thức, cách thức để hay nói đúng hơn là một tiêu chuẩn cơ bản để xác định tài năng và con đường quan lại của các nhà nho. Nhưng trên thực tế thì thi cử không phải là phương thức xác định một cách chuẩn xác nhất và đầy đủ nhất tài năng thực thụ của họ, ở đây chúng ta không kể đến những trường hợp mua quan bán tước. Trong Kiến văn tiểu lục Lê Quý Đôn có viết: “ Đặt ra khoa cử tuy có thi từ phú sách luận …tóm lại chỉ là dùng lời nói xuông ứng đối lại thực ra thì đến khi thi thố ra việc làm vẫn không phải những điều ấy, vả lại căn cứ vào văn chương mấy bài thi nơi trường ốc… làm gì mà có thể xét hết nhân tài” [ trang 93 Kiến văn tiểu lục].
Như vậy có nghĩa là văn chương khoa cử “ không phải là cái có thể phản ánh được trung thực những năng lực học thuật, năng lực kinh bang tế thế và hoạt động thực tiễn của các nhà nho “. Mà Phan Huy Chú là một trong những trường như vậy. Mặt khác như chúng ta đã biết Phan Huy Chú sinh ra trong thời kỳ đầy biến động của lịch sử dân tộc. Và chính sự biến đổi này đã ảnh hưởng sâu sắc đến gia đình Phan Huy Chú.
Như chúng ta đã biết, ông nội của Phan Huy Chú sau khi làm quan cho Lê Chiêu Thống đã cáo quan về quê thì cha là Phan Huy Ích và chú là Phan Huy Sảng lại theo Tây Sơn và phục vụ cho chính quyền Tây Sơn. Trong khi đó 2 chú là Phan Huy Thự và Phan Huy Tân vẫn giữa thái độ phò Lê Chống Tây Sơn. Như vậy chúng ta có thể thấy ngay trong một gia đình trí thức nhưng cũng đã có những tư tưởng khác nhau, những xu hướng khác nhau. Còn Phan Huy Chú lớn lên trong bối cảnh không mấy thuận lợi đó là lúc triều Tây Sơn suy sụp, triều Nguyễn lên thay đang tìm mọi cách để trả thù chính quyền cũ và những người từng tham gia ủng hộ chính quyền ấy, cha ông cùng người bạn thân thiết của mình ( Ngô Thì Nhậm - bác của Phan Huy Chú )đã bị đánh đòn ở Văn miếu.
Giá như không có sự thay đổi này chắc hẳn Phan Huy Chú sẽ thuận lợi hơn trong con đường tiến thân của mình. Có lẽ đó chỉ là một trong những lý do mà triều Nguyễn đã không trọng dụng ông. Ngoài ra chúng ta có thể tìm hiểu thêm một khía cạnh khác nữa 8 cũng có liên quan đến vấn đề này nhưng ở góc độ nào đó, nó thể hiện một tư tưởng rất mới của ông, đó chính là bản điều trần mà ông đã dâng lên vua Minh Mệnh nhưng không được chấp nhận. Trong Đại nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ chép vào năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) có ghi: “Lang trung bộ lại là Phan Huy Chú dâng sớ điều trần bốn việc nói nhiều điều viễn vông bậy bạ, không thiết việc đời.
Vua xem cười bảo rằng : Chú cầu tiến thân mong được hợp ý cũng như bọn Mao Toại tự tiến vậy.” bèn trả sớ lại.” Bản điều trần đó được Tạ Ngọc Liễn đưa ra trong tác phẩm Phan Huy Chú và dòng văn Phan Huy gồm : 1. Định lại chế độ quan chức cho rõ ràng 2. Phải thận trọng đối với việc thuế khóa 3. Phải xây dựng phương pháp phép tắc trong giáo dục, 4.
Phải chấn chỉnh cục sử học để sử sách biên soạn ra được rõ ràng. (trang 29) Mặc dù bản điều trần này tác giả của bài viết cũng chưa công bố tài liệu rõ ràng. Nhưng chúng tôi đưa ra và khai thác nó ở một góc độ sử học nhằm mục đích làm sáng tỏ thêm tư tưởng mới của ông chứ không phải góc độ chính trị, với những yếu tố mà chúng tôi cho là hợp lý và phù hợp với quan niệm trong quá trình biên soạn, trước thuật của nhà khoa học này. Từ đó chúng ta có thể thấy rằng những điều mà Phan Huy Chú đưa ra hoàn toàn không viễn vông bậy bạ mà ngược lại rất thực tế song chính quyền nhà Nguyễn có thể vì một lý do cá nhân nào đó hay cũng có thể vì họ không coi trọng những vấn đề cần thiết này cho việc cai trị của họ, nên không chấp nhận.
Hơn nữa chúng ta cũng xét đến mối liên hệ với những người Thân của ông. Trên thực tế trong giai đoạn này triều Nguyễn đang truy tội những người có dính líu đến chính quyền Tây Sơn, họ tìm mọi cách để tiêu diệt và trả thù tất cả những người có liên quan tới triều đại trước. Trong đó gia đình ông đã có mấy người từng tham gia ủng hộ. Mặc dù không được triều Nguyễn tiếp nhận nhưng chúng ta không thể phủ nhận tư tưởng rất mới của ông được thể hiện trong bản điều trần này.
Đặc biệt là điều thứ 4 của bản điều trần “ trấn chỉnh cục sử học 9 để sử sách biên soạn ra được rõ ràng”. Với điều này chúng ta thấy được tư duy, tầm nhìn xa, mà rất thiết thực của ông đối với việc biên soạn sử sách. Có thể trước và trong thời kỳ ông sống việc biên soạn sách vở còn nhiều sai sót và nhầm lẫn, không được rõ ràng cho nên việc chấn chỉnh lại cả người làm sử cho đến tư liệu. Ông đã nêu lên một thực tế rằng: Duy điển lễ của các triều từ trước chưa có sách sẳn.
Trong quốc sử biên chép công việc hàng năm về điển lễ còn sơ lược nhiều. Huống chi từ năm Bính Ngọ (1786) có việc binh đao đến giờ sách cũ tan nát, chỉ còn được một ít của các cố gia thế tộc cất dấu đi. Các sách nát, vở cũ còn lại biên chép lẫn lộn sai lẫn chưa có đầu mối. Có bàn về điển cố các triều thì lờ mờ không bằng cứ vào đâu.