Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Ngoài ra, ý nghĩa của nghiên cứu cũng được trình bày trong chương này. Chương 2: Cơ sơ lý luận và phương pháp nghiên cứu, nhằm trình bày những lý luận liên quan đến rủi ro lãi suất và lựa chọn phương pháp nghiên cứu. 3 Chương 3: Giới thiệu tổng quan về ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương này phân tích thực trạng rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh. Chương 5: Kết luận và giải pháp. Đưa ra kịp thời những giải pháp nhằm hỗ trợ kiểm soát công tác quản trị rủi ro lãi suất. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày nội dung về cơ sở lý luận của đề tài, đầu tiên là tìm hiểu đôi nét về NHTM, lãi suất và lãi suất tín dụng, các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng, tiếp theo là đến rủi ro lãi suất và các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro lãi suất và đo lường rủi ro lãi suất.
Cuối cùng là đề xuất phương pháp nghiên cứu.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại Đầu tiên NHTM là một loại ngân hàng trung gian. Ở mỗi quốc gia có một cách định nghĩa riêng về NHTM. Tại Mỹ: NHTM được định nghĩa là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính. Tại Pháp: NHTM là những doanh nghiệp hay cơ sở thường xuyên nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng số tiền đó cho chính NHTM trong các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.
Ở Thổ Nhĩ Kỳ: NHTM là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu hoặc các hình thức vay mượn khác. Còn tại Việt Nam, theo Luật các TCTD (2010) quy định NHTM là một loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này. Cũng theo Luật này định nghĩa: TCTD là doanh nghiệp được thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động của ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Ngoài ra, NHTM còn được định nghĩa là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Minh Kiều (2015) thì chức năng của NHTM được chia thành 3 loại chức năng và thể hiện như sau: - Chức năng trung gian tín dụng: đây được xem là chức năng quan trọng nhất NHTM.
Trong khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM 5 sẽ đóng vai trò là cầu nối giữa những bên thừa vốn với bên có nhu cầu vốn. Khi thực hiện chức năng này, NHTM sẽ đóng vai trò vừa là nhận tiền gửi, vừa là người cho vay và hưởng lợi nhuận từ khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận tiền gửi và lãi suất cho vay. Trong chức năng trung gian tín dụng thì cho vay là hoạt động chiếm vị trí quan trọng và là những nguồn mang lại lợi nhuận lớn nhất cho NHTM. - Chức năng trung gian thanh toán: trong chức năng này NHTM sẽ đóng vai trò là thủ quỹ cho các cá nhân, doanh nghiệp nhằm thực hiện các giao dịch thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như: thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
- Chức năng tạo tiền: được xem là chức năng phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng này được thực hiện dựa trên cơ sở của hai chức trung gian tín dụng và trung gian tài chính của NHTM, bằng cách thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sẽ sử dụng nguồn vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ,…với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. NHTM tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với NHTM.
Do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.3 Vai trò của NHTM Theo Nguyễn Minh Kiều (2015) thì vai trò của NHTM được thể hiện như sau: NHTM là nơi cung vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan trọng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển: Hoạt động kinh doanh tiền tệ với chức năng trung gian tín dụng, NHTM phụ thuộc vào những người khuyết tật của thị trường tài chính, khơi nguồn thông tin vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế,…hình thành nên quỹ cho vay và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Là một nguồn kênh phân phối có hiệu quả NHTM tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng tận dụng cơ hội đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, cải 6 tiến quy trình công nghệ, từ đó nâng cao năng lực lao động để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh khóc liệt. Với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của quốc gia. Ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường: Để có thể đưa ra sản phẩm dịch vụ tiếp cận với thị trường và bắt đầu tìm kiếm lợi nhuận, các doanh nghiệp cần phải có vốn (yếu tố đầu tiên quan trọng, mọi hoạt động nền tảng) để thực hiện sản xuất.
Khi vốn tự có không đủ hoạt động, các doanh nghiệp phải tìm đến các nguồn vốn khác. NHTM sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết vấn đề khó khăn bằng vốn tín dụng. Như vậy, ngân hàng là cầu nối đưa doanh nghiệp vào với thị trường, giúp doanh nghiệp tìm được đầu vào, bôi trơn hoạt động sản xuất kinh doanh và thanh toán để tạo ra thành phẩm cho thị trường. NHTM giúp doanh nghiệp và thị trường gần nhau hơn cả về thời gian và không gian.
NHTM là công cụ để nhà nước điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế: Các NHTM một mặt chịu tác động trực tiếp từ các công cụ thị trường tiền tệ, mặt khác gián tiếp tham gia vĩ mô nền kinh tế thông qua mối quan hệ với các tổ chức kinh tế, cá nhân về các hoạt động tài chính. Thông qua hoạt động của NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, mọi thông tin có liên quan đến việc hoạch định chính sách tiền tệ sẽ được NHTW phản hồi, giúp NHTW có thể hoạch định các mô hình kinh tế chính phù hợp từng thời kỳ để đảm bảo thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn định. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế: Ngày nay, quốc gia độc lập đều phát triển hệ thống quốc tế đa dạng và phức hợp trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, khoa học, công nghệ,…trong đó quan hệ kinh tế được chú trọng nhất. Áp lực cạnh tranh khi mở cửa hội nhập phải có sức mạnh tiềm tàng.
Hệ thống NHTM với các nghiệp vụ như: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, ủy quyền tư vấn,…sẽ giúp nền kinh tế của một quốc gia hòa nhập với phần còn lại của thế giới. Các NHTM với những nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, bảo lãnh, các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, đã góp phần tạo điều kiện, thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia trên thế giới.4 Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các NHTM hoạt động đa năng trên nhiều lĩnh vực, tuy nhiên nó tập trung vào ba nghiệp vụ chính là: nghiệp vụ Tài sản có (TSC), nghiệp vụ tài sản nợ (TSN) và nghiệp vụ môi giới khác (Phan Thị Thu Hà, 2014; Phan Thị Thu Hà, 2009).1 Nghiệp vụ Tài sản nợ Nghiệp vụ TSN bao gồm các hoạt động liên quan đến việc nhận vốn từ người gửi tiền và những người cho vay khác nhau tự quyết định mức góp vốn của mình, một cách thích hợp, vào một ngân hàng đặc biệt nào đó. Nghiệp vụ TSN còn liên quan đến việc cung cấp cho các nhu cầu về thanh khoản thông qua việc chủ động tìm kiếm thêm vốn vay, khi cần thiết hoặc bán các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu chính phủ, chứng khoản, v. ở thị trường thứ cấp.
NHTM thực hiện nghiệp vụ này chính là dùng các biện pháp nhằm huy động, thu hút các nguồn vốn từ khách hàng trong nền kinh tế. Đây là nghiệp vụ quan trọng, tạo nên nguồn tài nguyên cho ngân hàng. Trên cơ sở đó, ngân hàng sử dụng chúng để thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư, v.bằng các nguồn vốn như: - Nguồn vốn chủ sở hữu. - Vốn huy động: + Tiền gửi không kỳ hạn + Tiền gửi có kỳ hạn.
- Vốn đi vay từ NHNN, NHTM khác, vay thị trường tiền tệ, vay các tổ chức nước ngoài, v.2 Nghiệp vụ Tài sản có Từ tài nguyên là các nguồn vốn có được từ nghiệp vụ TSN, NHTM sử dụng chúng để đầu tư, cho vay, v. Do đó nghiệp vụ này phản ánh việc sử dụng vốn của ngân hàng theo định hướng đảm bảo an toàn và sinh lời, cụ thể thông qua các nghiệp vụ ngân quỹ (dự trữ tiền mặt), nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ đầu tư vào chứng khoán và các nghiệp vụ khác: - Nghiệp vụ ngân quỹ nhằm duy trì khả năng thanh khoản của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu rút tiền mặt và thanh toán thường xuyên của khách hàng. Mức dự trữ cao hay thấp tùy thuộc vào quy mô hoạt động của ngân hàng, mối quan hệ thanh toán bằng tiền mặt và chuyển khoản, thời vụ của các khoản chi tiền mặt.