Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu, nguyên liệu lao động chủ yếu tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là ngành sản xuất lớn bao gồm nhiều chuyên ngành: Trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản: Theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản [38].
Mô hình, mô hình sản xuất nông lâm nghiệp Mô hình: Là sự đơn giản hóa thực tế để có thể phân tích các quá trình phức tạp. Mô hình sản xuất nông - lâm nghiệp (Agroforestry): Là một tổ hợp các hoạt động kết hợp hài hòa trồng trọt các loại cây,cây lâm nghiệp với cây nông nghiệp hoặc với chăn nuôi tạo thành hệ thống nhất, đa dạng và ổn định cho hộ gia đình, trang trại hay cả cộng đồng. Lợi ích lớn nhất của hệ thống nông lâm nghiệp là tạo ra tương tác sinh học giữa các loại cây trồng phục vụ sản xuất với nhau hoặc với chăn nuôi (BruceC. Khái niệm về tín dụng Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về tín dụng.
Theo nguồn gốc từ La tinh cổ xưa thì tín dụng là "credese", có nghĩa là "tín nhiệm" hoặc "tin tưởng" (Jonathan Golin, 2001) [42] Qua nhiều thế kỷ, ý nghĩa của thuật ngữ này vẫn còn gần với bản gốc đó là “cho vay” hoặc "tín dụng" trong mối quan hệ vay mượn bắt nguồn từ sự vận động đơn phương của giá trị. Sự tách rời của (1) quá trình vay và (2) quá trình trả trên cơ sởtin tưởng, tín nhiệm nên mối quan hệ vay mượn trở thành quan hệ tín dụng; trongmối quan hệ đó, e 5 người đi vay phải trả cho người cho vay một khoản phí vì đã sử dụng vốn vay (3) theo nguyên tắc hạch toán kinh tế của thị trường (Sơ đồ 1.1 Biểu diễn quan hệ tín dụng Nói cách khác, quá trình “vay” là quá trình đi thuê vốn; quá trình “trả” là quá trình hoàn trả vốn đã đi thuê. Do đó, sau một thời gian sử dụng vốn đi thuê, ngoài việc hoàn trả vốn gốc đã thuê, bên đi thuê vốn phải trả lãi cho bên cho thuê. Bản chất của hoạt động tín dụng chính là phần lãi thu được, là giá trị tăng thêm mà bên đi thuê vốn phải trả cho bên cho thuê Tiền đề đầu tiên thường dựa vào các chủ nợ, cụ thể là kiến thức của người vay (hoặc danh tiếng của người vay), thứ hai thường được dựa trên sự hiểu biết của các chủ nợ về tình trạng tài chính của người vay, hoặc một bên đáng tin cậy.
Theo Jonothan Golin (2001) [42]: “Tín dụng là niềm tin hoặc kỳ vọng thực tế, khi đó người cho vay sẵn sàng cho vay và sẽ được hoàn trả đầy đủ theo quy định của thỏa thuận giữa bên cho vay và bên vay vốn và rủi ro tín dụng là khả năng có thể xảy ra”. Theo từ điển Wikipedia [48] định nghĩa tín dụng là sự tin tưởng ở đó một tổ chức (người cho vay) cho tổ chức khác (người đi vay) vay tiền hoặc các nguồn vật dụng khác, trong đó người đi vay không nhất thiết phải hoàn trả ngay, thay thế bằng đó là khoản nợ, nhưng hứa phải hoàn trả lại vốn, hoặc các nguồn lợi khác trong thời gian nhất định. Nói một cách khác, tín dụng được hình thành, được thừ nhận và phát triển rộng dãi. Nguồn cung cấp tín dụng bao gồm tài chính, vật dụng, trang thiết bị hoặc cả dịch vụ.
Nguồn trả tín dụng e 6 cũng có nhiều hình thức, cung cấp tín dụng được hiểu là người cho vay, cho thuê và người cho mượn. Hiện nay hoạt động tín dụng ngân hành là nguồn lớn nhất trong các tổ chức tín dụng, theo đánh giá các ngân hàng tại Anh Quốc cho đến tháng 12 năm 2013 có tới 97% vốn tín dụng được cung cấp từ các ngân hàng. Hiểu hoạt động tín dụng gồm 2 phần: phần vốn và phần nợ khi hoàn trả cho người vay bằng tỷ lệ lãi suất tương ứng. Từ những quan điểm trên, chúng ta thấy: Tín dụng chính là sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác, giá trị cho vay có thể dưới hình thức tiền tệ hay hình thái vật chất, sự chuyển giao được xác định có thời hạn nhất định và khi lượng giá trị được hoàn trả cho người chủ sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm, gọi là lợi tức tín dụng.
Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng được cung ứng bởi các chủ thể cho vay khác nhau, với các tổ chức tín dụng được được cung cấp bởi các NHTM nhà nước, NHTM cổ phần, quỹ tín dụng, công ty tài chính được hiểu là tín dụng chính thức hay tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu tác giả chỉ đề cập đến tín dụng được cung ứng bởi các ngân hàng thương mại. Nguồn vốn tín dụng ngân hàng bị ảnh hưởng bởi các nhân tố: Diện tích đất, trình độ học vấn của chủ hộ, giá trị sản lượng, số lao động và số người còn phụ thuộc độ tuổi, giới tính, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với tín dụng phi chính thức hay còn gọi là các hình thức tín dụng khác được dùng ở đây với nghĩa tương đối, phản ảnh một thực trạng tài chính ở nông thôn nước ta hiện nay.
Thuật ngữ tín dụng khác được dùng để chỉ những quan hệ tín dụng ngầm hoặc nửa công khai (nhiều trường hợp là công khai), ở đó có một hoặc một số hoặc tất cả các yếu tố vượt ra ngoài khuôn khổ của thể chế pháp lý hiện hành (mà yếu tố cơ bản nhất là lãi suất), như: vay nặng lãi, huê, hụi. Tuy nhiên, trong thực tế, nó cũng có thể bao gồm cả những quan hệ tín dụng trực tiếp giữa các cư dân nông thôn mà yếu tố lãi suất hoàn toàn bình thường, thậm chí thấp hơn so với e 7 lãi suất thị trường chính thức. Những quan hệ này phát sinh trên cơ sở những quan hệ tình cảm (họ tộc, bạn bè) hoặc nhiều thứ quan hệ đa dạng khác. Với các hình thức tín dụng trên, thì tín dụng ngân hàng cũng khẳng định được vai trò của mình trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển và một nền kinh tế muốn phát triển lâu dài và bền vững thì hệ thống tín dụng ngân hàng phải hoạt động mạnh mẽ.
Tín dụng ngân hàng là chủ thể cung cung vốn đặc biệt quan trọng, bởi các lý do sau: Ngân hàng là định chế tài chính trung gian lớn nhất trong nền kinh tế, mạng lưới rộng khắp. Ngân hàng đóng 2 vai trò trong nền kinh tế, vừa là người đi vay và vừa là người cho vay, do đó ngân hàng có thể tận dụng nguồn vốn huy động được để cho vay và sinh lời từ nguồn tiền này. Ngân hàng có các hình thức cho vay đa dạng và phong phú, không hạn chế về mặt thời gian và quy mô tín dụng, có thể thoả mãn nhu cầu của tất cả các chủ thể có nhu cầu về vốn. Hoạt động ngân hàng ngày càng đa dạng về các loại hình dịch vụ, ngoài hoạt động cấp tín dụng cho vay thì ngân hàng còn có các hoạt động dịch vụ khác như là bảo lãnh, chiết khấu, thanh toán, do đó đáp ứng tốt nhu cầu của các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế.
Qua phân tích trên, có thể hiểu tín dụng ngân hàng là sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ phía người cho vay là các NHTM sang các chủ thể sử dụng vốn có thời hạn và mục đích nhất định. Như vậy, với bản chất của tín dụng ngân hàng nói chung, bản chất của giải pháp tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất nông lâm nghiệp trong nền kinh tế thị trường thể hiện như sau: (1) Ngân hàng thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, đi vay để cho vay, nguồn vốn cho vay hộ sản xuất nông lâm nghiệp là vốn do ngân hàng huy động trong nền kinh tế; (2) Hộ sản xuất nông nghiệp vay vốn ngân hàng, ngoài việc hoàn trả gốc, còn phải lãi vay, đủ để ngân hàng chi trả vốn huy động và chi phí cho vay hộ sản xuất nông lâm nghiệp. e 8 Vai trò của tín dụng đến phát triển nông nghiệp: Khi đánh giá vai trò của tín dụng thúc đẩy phát triển nông thôn mới tại Lâm Đồng tác giả Vũ Văn Thực (2015) [25] cho biết thông qua nguồn vốn vay các hộ nông dân đã gia tăng tiềm lực tài chính để đầu từ cho sản xuất, kinh doanh, tăng cường hạch toán, từng bước chuyển dịch sản xuất nhỏ sang sản xuất tập chung. Nguồn vốn đã từng bước đẩy lùi tệ nạn cho vay nặng lãi, bán non hàng hóa nông sản ở nông thôn góp phần tích cực xó đói giảm nghèo.
Công nghệ kỹ thuật tiến tiến đã được áp dụng trong sản xuất, tăng giá sản xuất trên đơn vị sản xuất. Rào cản trong tiếp cận tín dụng của nông hộ NLN Xét về mặt lý thuyết thường có các rào cản sau: - Về môi trường pháp lý, thể chế chính sách: Chính sách là những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay: Về cơ chế cho vay, về đảm bảo tiền vay, về hành lang quản lý, về tiêu thụ, bao tiêu sản phẩm, trợ giá trong sản xuất nông nghiệp, đối tượng cho vay… - Việc chỉ đạo thực hiện, thực thi của Ngân hàng nhà nước đối với các NHTM như thực hiện cơ chế cho vay mở rộng cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng của hộ sản xuất. Hơn nữa chủ quan của bản thân NHTM cũng là những nhân tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả cho vay của NHTM: Nguồn vốn của NHTM, uy tín - tín nhiệm - tinh thần phục vụ của NHTM, trình độ của cán bộ NHTM trong thẩm định cho vay, trong tiếp thị, trong marketing và sự am hiểu về khoa học kỹ thuật cũng như am hiểu về pháp luật, nhất là luật kinh tế; về tổ chức phân công công tác phù hợp với năng lực của cán bộ NHTM… - Chủ quan của khách hàng vay vốn: Yếu tố chủ quan của khách hàng vay vốn, đó là chủ hộ sản xuất, cũng là những yếu tố cơ bản tác động đến hiệu quả cho vay: Trình độ, năng lực sản xuất kinh doanh, sự am hiểu về khoa học kỹ thuật và áp dụng khoa học công nghệ, sự am hiểu và nhạy bén với kinh tế e 9 thị trường và thị hiếu tiêu dùng; trình độ quản trị sản xuất kinh doanh và am hiểu và chấp hành pháp luật của chủ hộ sản xuất.