phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương. Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản. Thực trạng quan hệ thương mai Việt Nam - Nhật Ban từ năm 1990 đến năm 2007. Một số giải pháp chính sách đẩy mạnh quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA QUAN HỆ THUONG MẠI VIỆT NAM - NHẬT BAN 1. Một số vấn đề lý luận chung về thương mại quốc tế 1. Các lý thuyết về thương mại quốc tế 1. Chủ nghĩa trọng thương Các nhà kinh tế của chủ nghĩa trọng thương đã coi tiền là tiêu chuẩn căn bản của của cải.
Theo họ, một quốc gia giàu là phải có nhiều tiền, mỗi nước muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ. Những người theo chủ nghĩa trọng thương cho rằng của cải của một nước chỉ có thể tăng lên nhờ phát triển thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương, tức là phát triển buôn bán với nước ngoài. Bởi họ quan niệm lợi nhuận thương nghiệp là kết quả của sự trao đổi không ngang giá và lừa gạt giữa các quốc gia nên trong ngoại thương phải thực hiện xuất siêu, vì chỉ xuất siêu mới đạt được mục đích của các hoạt động kinh tế, mới làm tăng khối lượng tiền tệ của một nước. Do đó, họ đã đề nghị chính phủ can thiệp mạnh vào lĩnh vực này nhằm thúc đây xuất khâu, hạn chế nhập khẩu thông qua việc áp dụng các chính sách và công cụ kinh tế vĩ mô.
Các lý luận của chủ nghĩa trọng thương còn đơn giản, chưa giải thích được sự ra đời của thương mại quốc tế song nó đã sớm đánh giá tầm quan trọng của thương mại quốc tế cũng như vai trò của nhà nước trong việc điều tiết hoạt động kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế quan, lãi suất đầu tư vốn,. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối Theo lý thuyết về lợi thế tuyệt đối do Adam Smith phát hiện: “Mỗi quốc gia chỉ nên sản xuất các mặt hàng mà họ có lợi thế tuyệt đối, tức là sử dụng những lợi thé tuyệt đối đó họ có thé sản xuất ra sản phẩm với chi phí thấp hơn các nước khác”. Theo đó, quốc gia nào có đất đai phì nhiêu thì nên tập trung sản xuất trong ngành trồng trọt, nhập khẩu các mặt hàng công nghiệp tại các nước khác. Mỗi nước nên sản xuất chuyên môn hóa, dựa vào lợi thế tuyệt đối sẵn có của quốc gia thì sẽ có lợi nhất.
Khi các nguồn lực của từng nước được sử dụng hiệu quả nhất thì tổng sản phẩm của hai quốc gia sẽ tăng lên. Số sản phẩm tăng thêm này có được là do sự chuyên muôn hóa sản xuất và sẽ được phân bé giữa hai nước theo tỷ lệ ngoại thương. Ta cùng xét ví dụ về nước Pháp và nước Nhật cùng sản xuất ra gạo và vải. Lợi thế tuyệt đối Sản phâm Pháp Nhật Gao (kg/1 giờ công) 6 1 Vai (m/1 giờ công) 4 5 Pháp có lợi thế tuyệt đối về sản xuất gạo, vì năng suất lao động sản xuất gạo của Pháp gấp 6 lần nước Nhật nên chi phí để sản xuất 1 kg gạo chỉ bằng 1⁄6.
Nước Pháp sẽ chuyên môn hóa sản xuất gạo. Nước Nhật có lợi thế tuyệt đối về sản xuất vải, vì năng suất lao động sản xuất vải của nước Nhật gấp 5/4 lần nước Pháp nên chi phí sản xuất 1 m vải chi bằng 4/5. Nước Nhật sẽ chuyên môn hóa về sản xuất vải. Pháp và Nhật cùng tiến hành trao đổi sản phẩm cho nhau, cả hai sẽ đạt được lợi ích thương mại như sau: + Nước Pháp bỏ ra | giờ công sản xuất được 6 kg gạo.
Nếu trao đồi trong nước thì đem 6 kg gạo đổi lấy 4 m vải. Khi Pháp chuyên môn hóa sản xuất gạo trao đổi với Nhật thì phải 6 kg gạo phải đổi được số mét vải lớn hơn so với 4 m vải. Giả sử tỷ lệ trao đôi giữa hai nước là 1 kg gạo lấy 1 m vải thì 6 kg gạo của Pháp sẽ đổi được 6 m vải của Nhật. So với trao đổi trong nước, Pháp sẽ có lợi 2 m vải, hay tiết kiệm được 1/2 giờ công lao động.
+ Đối với nước Nhật, nếu muốn có 6 kg gạo như nước Pháp thì nước Nhật phải bỏ ra 6 giờ công lao động. Với thời gian đó, Nhật chỉ chuyên môn hóa sản xuất vải thì được 30 m vải (6 giờ công x 5 m vải = 30 m vải). Nhật dùng 6 m vải đề đổi lấy 6 kg gạo thì sẽ còn dư 24 m vải, hay tiết kiệm được gần 5 giờ công lao động. Vậy là cả hai quốc gia, Pháp và Nhật đều có lợi khi trao đổi thương mại với nhau khi chuyên môn hóa sản xuất.
Lý thuyết của Adam Smith đã giải thích được nguyên nhân của trao đổi thương mại giữa các quốc gia mà mỗi quốc gia đều có một lợi thế tuyệt đối nào đó. Tuy nhiên, lý thuyết trên không giải thích được hiện tượng: trao đổi thương mại vẫn diễn ra giữa một nước có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn với một nước kém lợi thế. Lý thuyết về lợi thế so sánh (ơi thế tương đối) Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo, đã khắc phục được hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith. Theo lý thuyết về lợi thế so sánh nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các nước khác trong việc sản xuất tất cả sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tạo ra lợi ích khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế.
Khi tham gia vào thương mại quốc tế, nước đó sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà việc sản xuất chúng ít bất lợi nhất, tức là chúng có lợi thế tương đối và nhập khâu các sản phẩm mà việc sản xuất chúng bất lợi nhất, tức là sản phẩm không có lợi thế tương đối. Lý thuyết của ông dựa trên 5 giả thiết: + Thế giới chỉ có 2 nước và 2 loại sản phẩm. + Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất có thé di chuyển trong mỗi quốc gia, nhưng không di chuyền giữa các nước. + Thương mại hoàn toàn tự do giữa hai nước.
+ Chi phí sản xuất là có định, không có chi phí vận chuyền. + Công nghệ sản xuất tại hai quốc gia là cố định. Ta cùng xét ví dụ minh họa lợi thế so sánh của Hàn Quốc và Việt Nam. Lợi thế so sánh Sản phâm Hàn Quôc Việt Nam Gạo (kg/giờ công) 6 1 Vải (m/giờ công) 4 2 Hàn Quốc có lợi thế tuyệt đối về sản xuất 2 sản phẩm so với Việt Nam.
Nhung năng suất lao động sản xuất gạo của Hàn Quốc gap 6 lần so vớiViệt Nam còn năng suất lao động sản xuất vải chỉ gấp 2 lần. Vì vậy, giữa hai loại sản phẩm gạo và vải, Việt Nam có lợi thế so sánh trong sản xuất vải. Hàn Quốc có lợi thế so sánh trong sản xuất gạo. Hai quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng có lợi thế tương đối rồi tiến hành trao đổi thương mại với nhau.
Nếu tỷ lệ trao đổi quốc tế bằng tỷ lệ trao đồi nội địa của mỗi nước thì một trong hai nước sẽ từ chối trao đổi thương mại. Bởi vậy, tỷ lệ trao đổi quốc tế phải nằm trong khoảng sau: 1/2 < Tỷ lệ trao đổi quốc tế (gạo/vải) < 6/4 1/2 : Tỷ lệ trao đổi nội địa của Việt Nam 6/4 : Tỷ lệ trao đổi nội dia của Hàn Quốc Hàn Quốc sẽ chuyên môn hóa sản xuất gạo, rồi dùng gạo dé đồi lấy vải của Việt Nam. Giả sử tỷ lệ trao đổi là 6 kg gạo đổi lấy 6 m vải, thì Hàn Quốc sẽ được lợi 2 m vải, tức là tiết kiệm được 1/2 giờ công. Nếu muốn có 6 kg gạo như Hàn Quốc thì Việt Nam phải bỏ ra 6 giờ công lao động.
Việt Nam sẽ chuyên môn hóa sản xuất vải, rồi dùng vải để đổi lấy gạo từ Hàn Quốc, tức là 6 giờ công x 2 m vải = 12 m vải. Việt Nam lấy 6 m vải đề đổi lấy 6 kg gạo, dư ra 6 m vải, tiết kiệm được 3 giờ công lao động. Nếu tỷ lệ trao đổi càng gần với tỷ lệ trao đổi của Hàn Quốc thì Việt Nam càng có lợi và ngược lại. Như vậy, nếu tiền hành trao đổi theo tỷ lệ ở khoảng giữa thì cả Việt Nam và Hàn Quốc đều có lợi.
Khoảng dao động của tỷ lệ trao đổi quốc tế là: 4 m vải < 6 kg gạo < 12 m vai Khi tỷ lệ trao đổi là 6 kg gạo đổi lấy 6 m vai thì Việt Nam được lợi 6 m vải còn Hàn Quốc được lợi 2 m vải. Song khi tỷ lệ trao đổi là 6 kg gạo lấy 8 m vải thì Hàn Quốc được lợi 4 m vải và Việt Nam được lợi 4 m vải. Việc thay đổi tỷ lệ trao đổi quốc tế sẽ ảnh hưởng tới nguồn lợi thương mại của mỗi nước tham gia. Lý thuyết lợi thế so sánh của Ricado, một lý thuyết cơ bản của thương mại quốc tế, khắc phục được hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối.
Tuy nhiên, ông xem xét giá trị hoặc giá cả của một sản phẩm chỉ dựa trên số lượng lao động tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm đó nên ông chưa giải thích được nguồn gốc phát sinh lợi thế của một nước đối với một sản phẩm, không giải thích triệt để nguyên nhân sâu xa của quá trình thương mại quốc tế. Các nhà kinh tế học sau Adam Smith và Ricado như Paul Samuelson. đã phát triển và hoàn thiện lý thuyết về thương mại quốc tế với cá giả định ngày càng sát với đời sống hiện thực hơn. Những phát trién này không được đề cập đến ở đây (do khuôn khổ của luận văn không cho phép).
Song, có thể khẳng định rằng những phát triển đó đều dựa trên cơ sở lý luận về lợi thế tuyệt đối và lợi thế tương đối trong thương mại quốc tế của Adam Smith và Ricado. Tóm lại, lý thuyết thương mại quốc tế đã chỉ rõ: “Bất kỳ hai quốc gia nào tận dụng những lợi thế của mỗi nước đều đem lại lợi ích cho cả hai quốc gia và cho xã hội nói chung. Và sự phát triển thương mại “hoàn toàn tự do” (theo cơ chế thị trường, không có sự can thiệp của nhà nước) sẽ đem lại lợi ích tối 10 đa cho xã hội”.