CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1.1 Vấn đề ổn định mái dốc Lý thuyết cân bằng giới hạn Một vài phương pháp cân bằng giới hạn đã được phát triển để tính toán ổn định mái dốc. Fellenius (1936) [6] giới thiệu phương pháp đầu tiên, gọi là phương pháp Thông thường với giả định mặt trượt hình tròn. Bishop (1955) [7] cải tiến phương pháp Thông thường bằng cách thêm các lực bên. Cùng thời gian đó, Janbu (1954) [8] đã phát triển một phương pháp đơn giản cho mặt trượt không phải hình tròn, phân chia khối trượt thành các mảnh trượt.
Sau đó phương pháp mảnh trượt được phát triển và tổng quát hóa. Morgenstern – Price (1965) [9], Sarma (1973) [10] và một vài tác giả khác đã có những cải tiến hơn nữa bằng cách thêm các giả định về lực tương tác giữa các mảnh. Phương pháp cân bằng giới hạn tổng quát được phát triển bởi Chugn (1986) [11] như là một sự mở rộng của phương pháp của Spencer và Morgenstern – Price, thỏa mãn cả điều kiện cân bằng lực và cân bằng mô men. Tất cả các phương pháp này dựa vào một số giả định về lực tương tác giữa các khối trượt, bao gồm lực pháp tuyến E và lực cắt X, và sự khác nhau giữa các phương pháp là cách thức để xác định những lực này.
Ngoài ra, hình dạng mặt trượt và các điều kiện cân bằng để tính toán hệ số an toán hệ số an toàn là giống nhau.1 Các phương pháp tính ổn định mái dốc theo lý thuyết cân bằng giới hạn Phương pháp Tròn Không tròn ΣM =0 ΣF =0 Giả định về X và E Thông thường √ - √ - Bỏ qua X và E Bishop đơn giản √ (*) √ (**) Bỏ qua X Janbu đơn giản (*) √ - √ Bỏ qua X Janbu GPS √ √ (***) √ Sử dụng E và X Lowe - √ - √ Sử dụng E và X 4 Corps - √ - √ Sử dụng E và X Sarma √ √ √ √ Sử dụng E và X Spencer √ (*) √ √ Sử dụng E và X Morgenst - Price √ √ √ √ f(x), X=f(x) λ E (*) Có thể sử dụng mặt trượt tròn và không tròn (**) Thỏa mãn điều kiện cân bằng lực đứng cho lực vuông góc với mặt trượt (***) Thỏa mãn cân bằng mô men cho các mảnh trượt mỏng trung gian Lực tương tác giữa các mảnh phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm đặc điểm biến dạng, quan hệ ứng suất – biến dạng của vật liệu. Tuy nhiên, việc kể đến chúng làm cho vẫn đề trở nên rất phức tạp, vì vậy các giả định nhằm đơn giản hóa trong hầu hết các phương pháp như bỏ qua cả hai, hoặc một trong hai. Lý thuyết phân tích giới hạn Phân tích giới hạn đã trở thành một công cụ rất mạnh cho việc phân tích các bài toán ổn định trong kết cấu lẫn địa kỹ thuật. Do vậy, nghiên cứu phân tích giới hạn được đẩy mạnh và đạt nhiều thành tựu trong vài thập kỷ vừa qua.
Nhiều phương thức số cũng như kỹ thuật tối ưu được phát triển cho bài toán phân tích giới hạn. Kỹ thuật phân tích giới hạn cho các bài toán địa kỹ thuật được triển khai nghiên cứu và đạt được nhiều thành quả, đặc biệt trong suốt 2 thập kỷ vừa qua nhờ vào sự phát triển của lý thuyết tối ưu và hệ thống máy tính phân tích. Một số tác giả đạt nhiều thành quả quan trọng trong lĩnh vực địa kỹ thuật cần kể đến như S.Sloan và các đồng nghiệp ở Newcastle (1995) [15], H.Sloan (1999)[18], Lymain và S. Gắn liền với sự phát triển của kỹ thuật phân tích giới hạn là kỹ thuật xấp xỉ số cho trường ứng suất và biến dạng, và thuật toán giải quyết các bài toán tối ưu.
Xét về mặt phương pháp số, nhiều phương thức số đã được nghiên cứu để xấp xỉ cho trường ứng suất và biến dạng như phần tử hữu hạn chuẩn, phương pháp không lưới, phương pháp phần tử biên. Cùng với sự phát triển phương thức số, thuật toán tối ưu cũng được phát triển, nhiều các thuật toán tối ưu tuyến tính hoặc phi tuyến để giải bài toán tối ưu. Thuật toán tối ưu hình nón bậc hai cũng được sử dụng để phân tích các bài toán phân tích giới hạn nền với 5 cách xấp xỉ trường chuyển vị là phần tử hữu hạn chuẩn và có xét đến sự bất liên tục trên biên.2 Vấn đề sức chịu tải móng nông đặt trên mái dốc Meyerhof (1957) [16] đã đề nghị một công thức tính sức chịu tải của móng đặt trên mái dốc dựa vào công thức sức chịu tải của Terzaghi với một số điều chỉnh, sau đó ông phát triển các biểu đồ cho một số trường hợp cụ thế. Tuy nhiên phạm vi áp dụng còn rất hạn chế.
Kusakabe, Kimura và Yamaguchi (1981)[14] là những người đầu tiên giới thiệu tham số cường độ c/γB, được coi là nhân tố quan trọng để xác định chính xác đường phá hoại. Họ sử dụng lý thuyết phân tích giới hạn cận trên và cận dưới để xác định sức chịu tải cực hạn của móng trên mái dốc, cũng như thực hiện các mô hình thí nghiệm để kiểm chứng tính đúng đắn của lý thuyết. Và thấy rằng, lời giải lý thuyết cho kết quả khá giống với các kết quả của các phương pháp lý thuyết trước đó, tuy nhiên kết quả từ mô hình thí nghiệm lại cao hơn khoảng 30%. Điều này cho thấy cần phải cải thiện hoặc các kĩ thuật mô hình số, hoặc các kĩ thuật đo đạc các tham số của đất.
Và câu trả lời là sự kết hợp của cả hai. Saran, Sud and Handau (1989)[12] đã sử dụng phương pháp cân bằng giới hạn và phân tích giới hạn để phát triển lời giải xác định sức chịu tải cực hạn của móng nông đặt trên mái dốc. Kết quả thu được lớn hơn kết quả của những nhà nghiên cứu trước đó như Meyerhof (1957)[16], Chen (1975)[2]. Điều này là vì các giả định khác nhau giữa các tác giả, tuy nhiên các công thức của Saran và Sud rất phức tạp nên ít được sử dụng trong thực tế.
Shields, Chandler, and Garnier (1990)[13] đã phát triển các công thức kinh nghiệm để tính sức chịu tải của móng đặt trên mái dốc bằng các thí nghiệm, nhưng chỉ với đất rời. Và kết quả cho thấy lớn hơn kết quả của các lý thuyết cổ điển. 6 Shiau et al. (2011) [3] sử dụng trương trình phi tuyến kết hợp phân tích giới hạn cận trên và cận dưới cùng với phương pháp phần tử hữu hạn.
Tiến hành nghiên cứu cho nhiều tham số không đơn vị như: - Góc mái dốc - L/B Tỷ số vị trí móng H - cu/B Tỷ số cường độ - q/B Ảnh hưởng tải phân bố - H/B Tỷ số chiều cao mái dốc Hình 1.1 Móng nông trên mái dốc - và Độ nhám của móng. Nghiên cứu này đã khảo sát toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến sự định của móng trên mái dốc và nhưng chưa thật đầy đủ để có thể áp dụng cho các trường hợp cụ thể. Tuy nhiên kết quả được sử dụng rất tốt để so sánh, và là số liệu được tham chiếu chính trong luận văn này.2 Tình hình nghiên cứu trong nước Lý thuyết cân bằng giới hạn được tiếp cận rộng rãi, sử dụng phổ biến để giải quyết các vấn đề địa kĩ thuật cụ thể. Các nghiên cứu liên quan chủ yếu được tiến hành cho các vấn đề thực tế kết hợp giữa lý thuyết, mô phỏng, quan trắc ứng với mỗi điều kiện địa chất cụ thể.
Các nghiên cứu lý thuyết nhằm phát triển mở rộng, và hoàn thiện lý thuyết cân bằng giới hạn cho vấn đề ổn định mái dốc và móng nông trên mái dốc rất ít. Trong khi đó, lý thuyết Phân tích giới hạn cho các bài toán địa kỹ thuật kết hợp với phương pháp số và tối ưu hình nón mới được triển khai nghiên cứu trong nước. Hiện tại, nhóm nghiên cứu do ThS. Nguyễn Chánh Hoàng hướng dẫn đang tiến hành nghiên cứu, xây dựng phương pháp tính toán cho một số vấn đề địa kĩ thuật như sức chịu tải móng nông, ổn định mái dốc, áp lực đất lên tường chắn… bằng cách sử dụng các lý thuyết trên, và bước đầu đã thu được một số kết quả tích cực.
7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày ngắn gọn các lý thuyết liên quan đến vấn đề phân tích ổn định mái dốc và sức chịu tải của móng nông trên mái dốc được sử dụng trong đề tài.1 Lý thuyết cân bằng giới hạn 2.1 Vấn đề ổn định mái dốc 2.1 Nguyên tắc của phương pháp cân bằng giới hạn Tất cả các phương pháp cân bằng giới hạn sử dụng biểu thức Morh – Coulomb để xác định sức chống cắt (τf) dọc mặt trượt. Ứng suất cắt (τ) khi đất bị phá hoại cắt được định nghĩa như là sức chống cắt của đất. Theo Janbu (1973)[8] “Ở trạng thái cân bằng giới hạn, ứng suất cắt được huy động bằng một phần của của sức chống cắt”. Theo Nash (1978)[19]: “Ở thời điểm phá hoại, sức chống cắt được huy động toàn bộ dọc theo mặt trượt khi các điều kiện tới hạn đạt đến”.
Ta có τf và τ được định nghĩa như sau: (2.1) Sức chống cắt: f c' 'tan ' f c' 'tan ' Ứng suất cắt được huy động : (2.2) F F Trong đó: c’, φ’, σ’ lần lượt là lực dính, góc nội ma sát, và ứng suất pháp có hiệu F là hệ số an toàn Sức chống cắt phụ thuộc vào loại đất và ứng suất pháp có hiệu, trong khi đó ứng suất cắt huy động phụ thuộc vào tải trọng ngoài tác dụng lên khối đất. Và hệ số an toàn được định nghĩa như là tỷ số giữa τf và τ, theo Janbu (1954)[20]. Tuy nhiên hệ số an toàn có thể được định nghĩa theo ba cách: cân bằng giới hạn, cân bằng lực, và cân bằng mô men. Định nghĩa thứ nhất dựa vào sức chống cắt, có thể theo hai cách tiếp cận: theo ứng suất tổng và theo ứng suất hữu hiệu.
Với cách tiếp cận theo ứng suất tổng được áp dụng cho các phân tích tức thới đối với đất sét, trong khi tiếp cận theo ứng suất hữu hiệu được sử dụng cho các phân tích dài hạn 8 cho mọi loại đất. Định nghĩa thứ hai và thứ ba dựa vào các điều kiện cân bằng lực và cân bằng mô men.