CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG Chương này trình bày một số lý thuyết nền và các nghiên cứu trước đây có liên quan đến dự án, quản lý dự án và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dự án đầu tư công.1 Dự án đầu tư (1) Theo định nghĩa của Tunner (1993): “Dự án là nỗ lực của con người, (hoặc máy móc), nguồn lực tài chính và vật chất được tổ chức theo một cách mới để tiến hành một công việc đặc thù với đặc điểm kỹ thuật cho trước, trong điều kiện ràng buộc về thời gian và chi phí để đưa ra một thay đổi có ích được xác định bởi mục tiêu định tính và định lượng”. Mới đây, hướng dẫn của Viện quản lý dự án (Project Management Institute’s guide to management body of knowledge) đã phát triển một định nghĩa mới về dự án: “Dự án là một nỗ lực tạm thời để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù. Tạm thời có nghĩa là mỗi một dự án có một kết thúc xác định. Đặc thù có nghĩa là sản phẩm hoặc dịch vụ đó khác biệt ở một cách khác so với tất cả sản phẩm hoặc dịch vụ cùng loại”.
Theo Luật Xây dựng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 thì: “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở”. Critical success factors in Project management an annalysis of Infrastructure projects in (1) VietNam, Ph D Cao Hao Thi, May 2006.2 Dự án đầu tư công (2) Dự án đầu tư công là những dự án do Chính phủ tài trợ (cấp vốn) toàn bộ hay một phần hoặc do dân chúng tự nguyện đóng góp bằng tiền hay bằng ngày công nhằm đáp ứng mọi nhu cầu mang tính cộng đồng. Nếu mở rộng hơn nữa dự án công còn bao gồm những dự án mà Chính phủ hoặc chính quyền địa phương đề xuất kêu gọi tài trợ quốc tế.
Cũng được xem là dự án công cho dù dự án đó do một đơn vị kinh doanh thực hiện nếu nó hướng đến việc nâng cao phúc lợi công cộng. Như vậy, nhận diện tính chất công của một dự án ở mục đích của nó - Hướng đến việc tạo ra những lợi ích cộng đồng. Ta có mô hình về mối quan hệ giữa chính sách chương trình và dự án công.1: Mô hình về mối quan hệ giữa chính sách chương trình và dự án công Chính sách, chiến lược phát triển quốc gia và vùng lãnh thổ Chương trình Chương trình quốc gia … Chương trình quốc gia … quốc gia … Dự Dự Dự Dự Dự Dự Dự Dự án án án án án án án án 1.3 Quản lý dự án đầu tư công (3) Morris (1994) định nghĩa quản lý dự án như sau: “Quản lý dự án là một quá trình kết nối các công tác, nhiệm vụ (đặc biệt là sử dụng những phương pháp quản lý dự án mang tính kỹ thuật) thông qua từng giai đoạn chu kỳ hoạt động của dự án (từ khi còn là ý tưởng đến khi chuyển giao) để đạt được mục đích của dự án”. (2) Giáo trình thẩm định dự án đầu tư khu vực công, TS.
Nguyễn Hồng Thắng và TS. Nguyễn Thị Huyền (3) Critical success factors in Project management an annalysis of Infrastructure projects in VietNam, PhD Cao Hao Thi,, May 2006. 5 123doc PMBOK (2000) định nghĩa: “Quản lý dự án là việc áp dụng kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động của dự án để đáp ứng yêu cầu của dự án”. Nói cách khác, nhà quản lý dự án (project manager) phải làm tất cả những yêu cầu cần thiết theo đúng trình tự, trong giới hạn thời gian và ngân sách cho phép để đạt được mục tiêu đề ra.
Ta có mô hình về mối quan hệ này: Hình 1.2: Mô hình về mối liên hệ giữa các thành tố trong quản lý dự án. Ngân sách MỤC TIÊU Chi Thời phí gian 1.4 Chất lượng đầu tư công 4 Chất lượng đầu tư công là một khái niệm nội hàm gồm 5 phẩm chất: Hiệu suất, Hiệu quả, Tác động, Mức độ phù hợp và Tính bền vững. Giáo trình thẩm định dự án đầu tư khu vực công, TS. Nguyễn Hồng Thắng và TS.
Nguyễn (4) Thị Huyền 6 123doc - Hiệu suất: Phản ảnh năng suất của dự án. Nó đo lường mức độ chuyển hóa những đơn vị đầu vào thành một đơn vị đầu ra. Một dự án đạt hiệu suất cao nhất khi sử dụng các nguồn lực với chi phí thấp nhất có thể đạt được đầu ra mong muốn. Biểu hiện cụ thể là hiện giá thuần tài chính càng dương càng tốt.
- Hiệu quả: Là thước đo mức độ đạt được các kết quả và mục tiêu từ những sản phẩm (đầu ra) của dự án. - Tác động: hàm ý những thay đổi tích cực hay tiêu cực; trực tiếp hoặc gián tiếp; chủ ý hay không chủ ý do việc thực thi dự án tạo ra. - Mức độ phù hợp: mức độ thích hợp của dự án đối với ưu tiên mang tính chiến lược của đất nước. - Tính bền vững: độ dài lâu của những lợi ích mà dự án mang lại.5 Tiêu chuẩn và nhân tố ảnh hưởng (Criteria and Factors)(5) Theo Hayword và Sparkes (1990) thì tiêu chuẩn và nhân tố ảnh hưởng được định nghĩa như sau: - Tiêu chuẩn (criteria): Là nguyên lý (principle) hoặc chuẩn mực/mức độ (standard) dùng làm cơ sở để đánh giá sự việc nào đó.
- Nhân tố (factor) : Là bất cứ tình huống (circumstance), sự kiện (fact) hay ảnh hưởng (influence) nào tác động đến kết quả của sự việc.6 Những nhân tố quan trọng trong quản lý dự án (Key Project Management Factors)(6) Những nhân tố quyết định sự thành công của quản lý dự án được mô tả trong các nghiên cứu lý thuyết thường không dựa trên thành quả thực tế. Để đánh giá những nhân tố này có thật sự thành công hay không còn tùy thuộc vào hiệu quả tác động của chúng đến thành quả dự án. Critical success factors in Project management an annalysis of Infrastructure projects in (5),(6) VietNam, PhD Cao Hao Thi, May 2006. 7 123doc Rubin và Seeling (1967) nghiên cứu mối quan hệ về kinh nghiệm của nhà quản lý dự án đến sự thành công hay thất bại của dự án.
Những phát hiện của họ chỉ ra rằng kinh nghiệm trước đây của nhà quản lý dự án chỉ có ảnh hưởng tối thiểu đến thành quả của dự án. Quy mô của các dự án được quản lý trước đây cũng không ảnh hưởng đến thành quả của nhà quản lý dự án. Ông kết luận rằng dự án thất bại vì: hệ thống quản lý đặt trọng tâm thiếu chính xác (improper focus of the management system), tưởng thưởng cho các hành động sai (rewarding the wrong actions) và việc công khai các mục đích bị giới hạn (limited communication of goals). Tuy nhiên, việc hiểu thất bại không có nghĩa là đảm bảo được thành công trong tương lai.
Tái tạo những nhân tố quyết định sự thành công (critical success factors) ở những dự án mới là một cách tiếp cận hiệu quả hơn. Dvir và các cộng sự (1998) cho rằng những nhân tố quyết định sự thành công không phải phổ biến cho tất cả các loại dự án. Các loại dự án khác nhau sẽ chịu ảnh hưởng bởi những nhóm nhân tố khác nhau. Vì thế, khi nghiên cứu về lý thuyết và thực trạng quản lý dự án phải tiếp cận theo từng dự án cụ thể thì mới đảm bảo tính chính xác.
Belassi và Tukel (1996) phân loại những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công trong quản lý dự án gồm: - Những nhân tố liên quan đến môi trường ngoại vi - Những nhân tố liên quan đến nhà quản lý dự án và thành viên nhóm dự án - Những nhân tố liên quan đến tổ chức - Những nhân tố liên quan đến dự án Việc nhận dạng các nhân tố quyết định sẽ dẫn tới việc đánh giá chính xác hơn cho dự án. Các nhân tố quyết định liên kết với hiệu quả của chúng (gọi là 8 123doc “phản ứng mang tính hệ thống”– “system responses”) dẫn đến sự thành công hoặc thất bại của dự án. Nhận định được mối quan hệ nguyên nhân - hệ quả này sẽ tăng cường thành quả dự án. Mối ảnh hưởng của các nhóm nhân tố trong quản lý dự án là một nhân tố trong nhóm này có thể ảnh hưởng một nhân tố của nhóm khác và sự kết hợp của một số nhân tố từ các nhóm các khác nhau có thể dẫn đến thất bại của dự án.
Cần lưu ý rằng bốn nhóm này cung cấp một tập hợp thấu đáo hơn đến mức bất kỳ một nhân tố nào đã được liệt kê trong lý thuyết hoặc thậm chí những quan điểm cụ thể đều thuộc về ít nhất một nhóm. Tóm lại, Bellassi và Tukel (1996) nhấn mạnh đến việc phân nhóm những nhân tố và giải thích mối tương quan giữa chúng thay vì việc nhận định từng nhân tố riêng biệt. Họ tin rằng trong tương lai sẽ có những nghiên cứu bổ sung tập trung vào mối quan hệ nguyên nhân - hệ quả giữa các nhân tố và các biện pháp đánh giá kỹ thuật.