Chương I TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1.1 Các khái niệm, cơ sở lý luận liên quan về cạnh tranh, NLCT và cụm ngành 1.1 Về cạnh tranh và NLCT Cạnh tranh Từ điển Tiếng Việt (2005) định nghĩa: “Cạnh tranh là cố giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau”. Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1995) thì “cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”. Marx (1978) thì cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch. Nhà kinh tế Samuelson (2000) thì cho rằng cạnh tranh là sự tranh giành thị trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp.
Qua các quan niệm khác nhau về cạnh tranh của các tác giả ta thấy có những nhận xét khác nhau về cạnh tranh theo quan điểm của mỗi người nhưng các quan niệm này có điểm chung là: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh cùng một loại sản phẩm hàng hóa và cùng tiêu thụ trên một thị trường để đạt được mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận. Năng lực cạnh tranh Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1995): “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ”. 123doc 5 Theo Smith (1776) thì trong thương mại quốc tế, mỗi quốc gia sẽ tìm cho mình một số sản phẩm mà nó có lợi thế tuyệt đối, tức là nó sẽ thu lợi nhờ việc chuyên môn hoá vào những sản phẩm mà nó sản xuất hiệu quả nhất và trao đổi với các quốc gia khác. Theo Torrens (1815) hay Ricardo (1817), Haberler (1936) thì cạnh tranh giữa của một chủ thể kinh tế này với chủ thể kinh tế khác được tạo ra từ lợi thế so sánh từ quá trình tập trung chuyên môn hóa sản xuất tạo ra sản phẩm có chi phí cơ hội thấp hơn.
Theo Krugman (1994, trích bởi Trần Thị Anh Thư, 2012) thì NLCT ít nhiều chỉ phù hợp ở cấp độ doanh nghiệp vì nếu công ty không bù đắp nổi chi phí thì hiện tại hoặc sau này sẽ từ bỏ kinh doanh hoặc phá sản. Theo Porter (1990, trích bởi Vũ Thành Tự Anh, 2011) thì NLCT ở cấp độ quốc gia là năng suất. Năng suất là nhân tố quyết định của mức sống dài hạn của một quốc gia, và là nguyên nhân sâu xa của thu nhập quốc gia bình quân đầu người.2 Về cụm ngành Cụm ngành (cluster), hiểu một cách đơn giản là sự tập trung về mặt địa lý của các hoạt động sản xuất và thương mại trong một lĩnh vực nhất định hoặc một số lĩnh vực có liên quan chặt chẽ; là một hiện tượng tồn tại từ nhiều thế kỷ trước. Tuy nhiên, về phương diện học thuật, quan niệm về cụm ngành lần đầu tiên được Marshall (1890, trích bởi Vũ Thành Tự Anh, 2011) sử dụng trong tác phẩm “Các nguyên tắc kinh tế học” (Principles of Economics).
Ông đã sử dụng thuật ngữ “khu vực công nghiệp” (industrial district) để mô tả sự tập trung và gần kề về địa lý của các DN trong nội ngành, nhờ đó tạo ra ngoại tác tích cực và lợi thế kinh tế nhờ quy mô cho các DN hoạt động trong khu vực đó. Lợi thế kinh tế xuất hiện khi sự tập trung tạo ra thị trường lao động linh hoạt cho những công nhân có tay nghề và kỹ năng; tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các nhân tố đầu vào và dịch vụ chuyên biệt; và tạo được tác động lan tỏa từ việc phát triển công nghệ và bí quyết. 123doc 6 Theo Krugman (1991, trích bởi Vũ Thành Tự Anh, 2011), nguồn gốc hình thành cụm ngành phần nhiều là do lợi thế kinh tế nhờ quy mô hơn là do lợi thế so sánh. Theo Rosenfeld (1997, trích bởi Vũ Thành Tự Anh, 2011), cụm ngành là sự tập trung về không gian địa lý của các DN sản xuất các sản phẩm tương tự, sản phẩm có liên quan hoặc sản phẩm hỗ trợ thông qua các kênh giao dịch, liên lạc và đối thoại nhằm chia sẻ về hạ tầng, thị trường lao động và dịch vụ, đồng thời cũng để ứng phó với những cơ hội và nguy cơ chung.
Các học giả khác nhau cũng đưa ra những khái niệm khác nhau về cụm ngành. Với mục đích của nghiên cứu này và để đảm bảo sự nhất quán, tác giả sử dụng khái niệm cụm ngành của Porter (1990, 1998, 2008, trích bởi Vũ Thành Tự Anh, 2011) như sau: “Cụm ngành là sự tập trung về mặt địa lý của các DN, các nhà cung ứng và các DN có tính liên kết cũng như của các công ty trong các ngành có liên quan và các thể chế hỗ trợ (ví dụ như các trường đại học, cục tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại) trong một số lĩnh vực đặc thù, vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau”.2 Các lý thuyết kinh tế về NLCT và cụm ngành 1.1 Lý thuyết về NLCT Theo Porter (1990) thì NLCT của quốc gia được đo bằng năng suất sử dụng vốn, lao động và tài nguyên thiên nhiên. NLCT quốc gia phụ thuộc vào 03 nhân tố: Các yếu tố lợi thế tự nhiên, NLCT vĩ mô, NLCT vi mô; và được mô hình hóa bằng hình sau: Hình 1.1: Các nhân tố quyết định đến NLCT quốc gia Nguồn: VCR 2010 Trên cơ sở lý thuyết NLCT của Porter (1990, 1998, 2008), Vũ Thành Tự Anh (2011) đã điều chỉnh thành lý thuyết NLCT cấp độ địa phương như sau: Hình 1.2: Các nhân tố quyết định NLCT của địa phương Nguồn: Vũ Thành Tự Anh (2011) Các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT địa phương được xác định theo khung phân tích trên như sau: 123doc 8 Các yếu tố lợi thế sẵn có của địa phương: bao gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, hay quy mô của địa phương. Những nhân tố này không chỉ là số lượng mà còn bao gồm sự phong phú, chất lượng, khả năng sử dụng, chi phí đất đai, điều kiện khí hậu, diện tích và địa thế vùng, nguồn khoáng sản, nguồn nước, các nguồn lợi thuỷ sản hay ngư trường, v.v, là những đầu vào cần thiết cho việc cạnh tranh của bất kỳ địa phương nào và cho cả các DN hoạt động trong địa phương đó.
Tuy nhiên, những lợi thế sẵn có của nguồn tài nguyên hay vị trí địa lý có thể đóng góp cho sự thịnh vượng của địa phương trong một số thời kỳ và với những điều kiện nhất định, song nếu chỉ dựa vào những lợi thế “trời cho” này thì sự thịnh vượng cũng sẽ chỉ có giới hạn, thậm chí rơi vào nghịch lý “lời nguyền tài nguyên”. NLCT ở cấp độ địa phương: bao gồm các nhân tố cấu thành nên môi trường hoạt động của DN; là tổng hòa các yếu tố có ảnh hưởng lên NLCT của các DN từ cách suy nghĩ, quan điểm, thái độ cho đến hành vi, sự sáng tạo và tinh thần kinh doanh. Có thể chia các yếu tố này thành 02 nhóm chính bao gồm: (i) chất lượng của hạ tầng xã hội và các thể chế chính trị, pháp luật, văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế; và (ii) các thể chế, chính sách kinh tế như chính sách tài khoá, tín dụng và cơ cấu kinh tế. (i) Trong bối cảnh cạnh tranh hiện đại, trái với sự hiểu biết thông thường, việc đơn thuần có được những con người có trình độ giáo dục cơ bản tốt không đồng nghĩa với lợi thế cạnh tranh.
Để hỗ trợ cho lợi thế cạnh tranh, các nhân tố phải được chuyên môn hoá cao độ cho các nhu cầu cụ thể của một ngành. Bên cạnh đó, môi trường sống và làm việc cũng ảnh hưởng đến quyết định đi hay ở của người lao động. Sự phát triển của thể chế chính trị được đo lường bởi sự cởi mở và ổn định xã hội ở địa phương, tiếng nói của các DN được lắng nghe và được tôn trọng trong thực tế, trách nhiệm giải trình của các quan chức chính quyền địa phương được đề cao, tính hiệu lực và hiệu quả của nền hành chính công được cải thiện. (ii) Chính sách tài khoá, tín dụng và đầu tư, theo đó, cũng sẽ cần có những điều chỉnh thích hợp cho phù hợp với các điều kiện và ưu tiên của từng địa phương; là những yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến môi trường cạnh tranh của địa 123doc 9 phương.
Sự sẵn có của các nguồn vốn, khả năng tiếp cận vốn dễ dàng, chi phí sử dụng vốn thấp và một hệ thống thanh khoản tốt đều là những mối quan tâm đặc biệt của bất kỳ DN nào khi quyết định lựa chọn môi trường để đầu tư và phát triển. NLCT ở cấp độ DN: Đây là những nhân tố tác động trực tiếp tới năng suất của DN, bao gồm chất lượng môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trình độ phát triển cụm ngành, hoạt động và chiến lược của DN. (i) Môi trường kinh doanh và hạ tầng kỹ thuật: là điều kiện bên ngoài giúp DN đạt được mức năng suất và trình độ đổi mới, sáng tạo cao nhất. (ii) Trình độ phát triển của cụm ngành: Phân tích sự tập trung về mặt địa lý của các DN, các tài sản chuyên môn, hoặc các tổ chức hoạt động trong những lĩnh vực nhất định.
Cụm ngành phản ánh tác động của liên kết và tác động lan tỏa giữa các DN và các tổ chức có liên quan trong cạnh tranh. Sự phát triển của cụm ngành giúp tăng năng suất và hiệu quả hoạt động của DN. (iii) Hoạt động và chiến lược của DN: Đánh giá các điều kiện bên trong nhằm giúp DN đạt được mức năng suất và trình độ đổi mới, sáng tạo cao nhất dựa trên sự tinh thông, những kỹ năng, năng lực và thực tiễn quản lý DN.2 Lý thuyết về cụm ngành Theo Porter (2008, trích bởi Vũ Thành Tự Anh, 2011), trình độ phát triển của cụm ngành thường được đánh giá qua mối quan hệ của 04 yếu tố sau: (i) các điều kiện về nhân tố đầu vào, (ii) các điều kiện cầu, (iii) các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan, và (iv) chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa. Ông mô tả 04 đặc tính này thông qua 04 góc của một hình thoi – còn được gọi là Mô hình kim cương Porter (hình 1.