LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Than là một trong những nguồn năng lượng hóa thạch chính đáp ứng nhu cầu năng lượng của nhân loại. Đối với Việt Nam, than có vai trò quan trọng trong sản xuất công nghiệp và tiêu dùng. Trong nhiều thập kỷ tới, vai trò của than trong cân bằng năng lượng Việt Nam và thế giới vẫn chưa thể thay đổi.
Cùng với sự phát triển sản xuất công nghiệp trong nước, khai thác, chế biến than đạt được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, sản lượng than trong nước trongthời gian gần đây không đủ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Năm 2017 sản lượng khai thác than là 38,4 triệu tấn, năm 2018 là42,07 triệu tấn(Tổng cục Thống kê, 2019), năm 2020 có thể khai thác khoảng 47-50 triệu tấn, năm 2025 có thể khai thác khoảng 51-54 triệu tấn trong khi nhu cầu lần lượt các năm 2018 là 45,71 triệu tấn, 2019 là 72,81 triệu tấn, dự kiến 2020 là 81,28 triệu tấn và 2025 là 110,91 triệu tấn. Từ năm 2013, để đáp ứng nhu cầu nền kinh tế, Việt Nam phải nhập khẩu than, từ 2,27 triệu tấn (2013) đến 19,17 triệu tấn (2018) và 36,82 triệu tấn (2019).
Theo ước tính, đến năm 2025, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 66 triệu tấn than. Đến hết 2019, Việt Nam đã nhập khẩu than từ 23 quốc gia, trong đó, 7 quốc gia xuất khẩu than vào Việt Nam gồm: Indonesia, Úc, Nga, Trung Quốc, Malaysia, Nam Phi, Canada, chiếm tỷ trọng 95-99%. Tuy vậy, tình hình nhập khẩu than của Việt Nam thời gian qua còn nhiều bất cập, như: hầu hết các doanh nghiệp đều mua than trên thị trường tự do, nhập khẩu theo lô, chuyến với khối lượng nhỏ lẻ, manh mún, thiếu những hợp đồng nhập khẩu than dài hạn, quy mô lớn; thiếu mạng lưới ổn định phục vụ nhập khẩu than đảm bảo khối lượng và chất lượng. Bên cạnh đó,các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, nhất là Ấn Độ và Trung Quốc đã kiểm soát thị phần của các đối tác xuất khẩu than như Úc, Nga, Indonesia, Nam Phi.
Các nước này xây dựng mạng lưới nhập khẩu than tối ưu, vì vậy, tạo không ít khó khăn cho Việt Nam trong việc nhập khẩu than với số lượng lớn và dài hạn. Ngoài 2 ra, chính sách nhập khẩu than những năm gần đây có sự thay đổi, từ nhập khẩu tập trung vào một số ít đầu mối chuyển sang cho phép các doanh nghiệp được nhập khẩu than trực tiếp. Hiện nay, tham gia nhập khẩu thangồm TKV, TCT Đông Bắc, PVN, EVN, doanh nghiệp tư nhân.Năm 2016, số doanh nghiệp tham gia thị trường nhập khẩu than trực tiếp lên tới 55 thay cho 03 đầu mối trước đó.Các doanh nghiệp này tự do cạnh tranh trên thị trường than quốc tế, dẫn đến việc nhà cung cấp nước ngoài lợi dụng để gây khó khăn trong đàm phán về giá cả, số lượng, hình thức vận chuyển, giao nhận. Hơn nữa, quy trìnhđấu thầu cung cấp than nhập khẩu cho Việt Nam chưa phù hợp với thông lệ quốc tế; nhiều chủ thầu và nhà cung cấp lớn không tham gia đấu thầu; chất lượng không đồng nhất, nguồn cung thiếu tin cậy; đơn vị cung cấp dịch vụ logistics trong nước thiếu năng lực chuyên môn về than… Từ thực trạng trên cho thấy, nhập khẩu than của Việt Nam chưa được tổ chức thành một mạng lưới thống nhất, thật sự khoa học, hiệu quả, có khả năng thích nghi nhanh chóng với biến động thị trường, chưa tận dụng triệt để các cơ hội mới xuất hiện trên thị trường thế giới, nhất là cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do.
Đây là vấn đề chưa có nhiều nghiên cứu ở Việt Nam. Vì thế, đề tài “Mạng lưới nhập khẩu than của Việt Nam” được lựa chọn. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Cho đến nay, có một số công trình nghiên cứu liên quan đề tài, đó là: 2.1 Công trình nghiên cứu trong nƣớc Viện Năng lượng - Bộ Công Thương (2019) với chuyên đề khoa học chuyên sâu về nhập khẩu than: “Tình hình và phương hướng phát triển nhiệt điện than giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, trong đó, đánh giá tình hình năng lượng trên thế giới, thực trạng ngành công nghiệp nhiệt điện than của Việt Nam, từ đó xác định nhập khẩu than là xu hướng không thể thay thế trong 25 năm tới. Phạm Việt Hùng (2016) với đề tài “Nghiên cứu xây dựng chuỗi cung ứng than nhập khẩu đường biển cho các trung tâm nhiệt điện tại khu vực đồng bằng 3 sông Cửu Long”, nghiên cứu phương pháp luận để xây dựng mô hình chuỗi cung ứng than nhập khẩu cho các NMNĐ của Việt Nam, gồm các yếu tố như: nguồn cung, vận tải, kho bãi, cảng biển.
Đề tài đã đưa ra những kiến nghị về chính sách gồm hoàn thiện cơ sở hạ tầng, tài chính, doanh nghiệp, vận tải, phát triển quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước liên quan. Nguyễn Thành Luân (2014) với luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu đề xuất các phương án nhập khẩu than cho các nhà máy điện dùng than nhập khẩu của PVN”, cung cấp các căn cứ khoa học về hoạt động nhập khẩu than cho PVN trong quá trình chuẩn bị thực hiện nhập khẩu. Lê Hồng Sơn (2013) với luận văn thạc sĩ “ Nghiên cứu một số giải pháp đẩy mạnh công tác nhập khẩu tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu than - Vinacomin đến năm 2020”, trong đó đánh giá nhu cầu, tình hình sản xuất, kinh doanh than của công ty Vinacomin và đề cập đến các vấn đề về chính sách, quản trị, tìm kiếm nguồn cung cấp than cho hoạt động nhập khẩu. Tô Thị Bích Ngà (2011) với luận văn thạc sĩ “Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh nhập khẩu ở Coalimex - tổng công ty than Việt Nam”, đánh giá thực trạng và chất lượng hoạt động nhập khẩu của Coalimex, đề ra giải pháp về quản trị kinh doanh, hợp tác quốc tế, tìm kiếm nguồn cung để nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu đối với Coalimex.
Nguyễn Thành (2010) với luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế - áp dụng cho Công ty cổ phần xuất nhập khẩu than - TKV”, trong đó đánh giá thực trạng và chất lượng hoạt động nhập khẩu của TKV, đề ra giải pháp quản trị kinh doanh, hợp tác quốc tế trong bối cảnh hội nhập, qua đó, nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu mặt hàng than đối với TKV. “Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030” ban hành kèm theo Quyết định số 1208/QĐ-TTg, ngày 21/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ (QH Điện VII), đề cập đến nhập khẩu than cho các NMNĐ. 4 QH Điện VII đã nêu một số kết luận về nguồn cung than tiềm năng cho Việt Nam trên thị trường thế giới, tuy nhiên, chưa có đánh giá về các ưu nhược điểm của từng thị trường. Đề án điều chỉnh QHĐ Điện VII ban hành kèm theo Quyết định số 428/QĐ- TTg, ngày 18/3/2016 của của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030” đề cập đến một số giải pháp như: liên doanh trong và ngoài nước nhằm thu hút các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước tham gia các dự án điện, phát triển cảng trung chuyển nhập khẩu than, tìm kiếm, đàm phát nhập khẩu than ổn định, lâu dài… “Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030” ban hành theo Quyết định số 60/QĐ-TTG, ngày 09/01/2012, được điều chỉnh theo Quyết định số 403/QĐ-TTg, ngày 14/3/2016 kèm theo Quyết định số 60/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ, đề ra mục tiêu đáp ứng than cho nhu cầu trong nước, nhất là than cho sản xuất điện, đề ra giải pháp đàm phán với các nước xuất khẩu than để ký hợp đồng mua than lâu dài, ổn định.2 Công trình nghiên cứu nƣớc ngoài Julian Chaisse (2019) trong cuốn sách “China's International Investment Strategy: Bilateral, Regional, and Global Law and Policy” (“Chiến lược đầu tư quốc tế của Trung Quốc: Luật và chính sách song phương, khu vực và toàn cầu”)phân tích và đánh giá ba trụ cột chính sách của Trung Quốc, gồm: các hiệp định song phương; các hiệp định khu vực và các sáng kiến toàn cầu, đặc biệt là G20 và “sáng kiến Vành đai và Con đường”, làm nổi bật cách thức Trung Quốc đẩy mạnh hoạt động thương mại toàn cầu, trong đó có xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa.
Young (2019) trong cuốn sách “The Sogo Shossa: Japan’s Multinational Trade Companies” (“Sogo Shossa: Các công ty thương mại đa quốc gia của Nhật Bản”)phân tích một cách có hệ thống các đặc điểm cơ bản, phương thức kinh doanh, chiến lược, vai trò quốc gia, tầm với toàn cầu, điểm mạnh và điểm yếu các tập đoàn kinh doanh đa quốc gia của Nhật Bản, với tư cách là chủ thể nhập 5 khẩu thực phẩm, nguyên liệu và thiết bị của Nhật Bản, đồng thời tổ chức các chương trình phát triển tài nguyên thiên nhiên ở nước ngoài. Guicai Dong (2017) với báo cáo khoa học “China’s Energy Import Market Structure and Its Effects on Energy Security” (“Cấu trúc thị trường nhập khẩu năng lượng của Trung Quốc và ảnh hưởng của nó đối với an ninh năng lượng”) chỉ ra thực trạng, cấu trúc và nhu cầu năng lượng của Trung Quốc, đồng thời đánh giá tác động của mô hình nhập khẩu năng lượng đối với an ninh năng lượng của nước này nói riêng và thế giới nói chung. Maarten Boskervà Bastian Westbrock (2016) với nghiên cứu: “A theory of trade in a global production network” (“Lý thuyết về thương mại trong mạng lưới sản xuất toàn cầu”) phân tích mạng lưới các quốc gia sản xuất gồm nhiều giai đoạn, trong đó nhấn mạnh vai trò một số quốc gia trung gian quan trọng trong việc đưa các quốc gia khác gắn kết chặt chẽ với nhau hơn bằng cách trung gian giá trị gia tăng của họ. Selvie Cornot-Gandaphe (2016) với nghiên cứu: “The role of coal in Southeast Asia’s power sector and implications for global and regional coal trade” (“Vai trò của than trong ngành điện Đông Nam Á và tác động đến thương mại than toàn cầu và khu vực”) phân tích, đánh giá nhu cầu năng lượng các quốc gia Đông Nam Á, vai trò của than đối với an ninh năng lượng của khu vực này cũng như những tác động đến thị trường than thế giới.
Morse và Mark C. Thurber (2015) trong nghiên cứu “The Global Coal Market - Supplying the Major Fuel for Emerging Economies” (“Thị trường than toàn cầu - nguồn cung cấp nhiên liệu chính cho các nền kinh tế mới nổi”), phân tích sâu sắc các nhà sản xuất và người tiêu dùng chính, có ảnh hưởng nhất đến sản xuất, vận chuyển và sử dụng than.