CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Nghiệp vụ tín dụng là một nghiệp vụ chủ yếu đem lại nguồn lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại. Trong điều kiện nền kinh tế phát triển như ngày nay, nhu cầu vốn để đầu tư ngày một gia tăng. Các ngân hàng đã biết tận dụng cơ hội này để vừa cung cấp vốn kịp thời cho nền kinh tế, góp phần vào sự tăng trưởng vừa làm tăng lợi nhuận hoạt động của ngân hàng mình. Nhưng để đảm bảo được lợi nhuận đó, các ngân hàng cần phải quan tâm đến chất lượng tín dụng.
Việc quản trị tốt chất lượng nguồn vốn cho vay góp phần vào sự tồn tại của các ngân hàng. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy hoạt động tín dụng của các ngân hàng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro và những rủi ro này lại bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Để hoạt động kinh doanh ổn định phát triển, đảm bảo có hiệu quả và hạn chế rủi ro thì phải có những giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng. Đối với huyện Phong Điền, phần lớn dân cư sống bằng nghề nông, vốn tự có từ tích lũy nội bộ nông dân không thể đáp ứng được nhu cầu vốn phục vụ sản xuất.
Do đó hoạt động tín dụng của Ngân hàng chủ yếu tập trung giải quyết vấn đề vốn cho nông dân đầu tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Bên cạnh đó, vốn tín dụng còn phải đáp ứng phục vụ tốt các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế còn lại, đảm bảo cho nền kinh tế có đủ vốn để phát triển đồng bộ và bền vững. Với nhận định về tầm quan trọng của hoạt động tín dụng trong hoạt động ngân hàng, nên việc phân tích hoạt động tín dụng của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Phong Điền luôn giữ vai trò cốt yếu, là sự cần thiết và khách quan, phù hợp với thực tế hoạt động, có ý nghĩa quyết định đến việc hoàn thành đạt và vượt các mục tiêu kế hoạch của Ngân hàng. Đây là cơ sở để xác định và đánh giá sự đóng góp của Ngân hàng trong việc góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội của huyện Phong Điền nói riêng và của TP.Cần Thơ nói chung phát triển đồng bộ.
11 Chính những lí do trên mà tôi chọn đề tài: “Phân tích hoạt động tín dụng của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Phong Điền“ làm đề tài tốt nghiệp của mình. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu chung: Phân tích hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Phong Điền và đưa ra các giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng.2 Mục tiêu cụ thể: - Phân tích tình hình huy động vốn qua 3 năm 2007, 2008, 2009 và 6 tháng đầu năm 2010 tại Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT huyện Phong Điền. - Phân tích hoạt động cho vay qua 3 năm 2007, 2008, 2009 và 6 tháng đầu năm 2010 tại Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT huyện Phong Điền. - Phân tích những tác động của nợ xấu đến tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh.
- Đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT huyện Phong Điền. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Giới hạn về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT huyện Phong Điền – TP. Giới hạn về thời gian: Số liệu đề tài được thu thập từ năm 2007 - 2010. Giới hạn về nội dung: Phân tích hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT huyện Phong Điền – TP.
12 CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. PHƯƠNG PHÁP LUẬN 2. Những vấn đề cơ bản về tín dụng 2. Khái niệm về tín dụng Tín dụng là một hoạt động được ra đời và phát triển rất sớm, nó phát triển cùng với sự phát triển của hàng hóa.
Tín dụng được hiểu như sau: + Tín dụng là một phạm trù kinh tế, phản ánh quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế hàng hóa. + Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời gian nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và khi đến hạn người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn khoản giá trị được chuyển nhượng. Khoản giá trị dôi ra này được gọi là lợi lức tín dụng. + Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (trái chủ, người đi vay) được cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ, chứng khoán,… dựa vào lời hứa thanh toán lại trong tương lai cho bên kia (thụ trái, người cho vay).
Như vậy tín dụng được diễn đạt bằng nhiều lời lẽ khác nhau nhưng chúng chỉ một hành động thống nhất “Hoạt động cho vay và đi vay” và quan hệ này được ràng buộc trên cơ sở pháp luật hiện hành. * Tín dụng Ngân hàng là mối quan hệ giữa người đi vay và người cho vay và mối quan hệ này được ràng buộc với nhau bằng hợp đồng tín dụng. Bản chất của tín dụng Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay và người cho vay, nhờ quan hệ ấy mà nguồn vốn được vận động từ chủ thể này sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế - xã hội theo nguyên tắc có hoàn trả. Hợp đồng và thời hạn tín dụng Hợp đồng tín dụng là hợp đồng kinh tế mang tính chất dân sự, được ký kết giữa Ngân hàng với một pháp nhân hay thể nhân vay vốn để đầu tư hay sử dụng vốn cho một mục đích hợp pháp nào đó.
Thời hạn tín dụng là khoảng thời gian mà người vay được sử dụng vốn. Thời hạn tín dụng là khoảng thời gian được tính từ khi người vay rút khoản tiền vay đầu tiên đến khi trả hết nợ. Thời hạn tín dụng được chia ra làm 3 loại: - Tín dụng ngắn hạn: là những khoản vay có thời hạn đến 1 năm, thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cá nhân. - Tín dụng trung hạn: là những khoản vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm; được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: là những khoản vay có thời hạn trên 5 năm. Loại tín dụng này được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn 2. Bảo đảm tín dụng Đảm bảo tín dụng là một phương tiện tạo cho chủ Ngân hàng có một sự đảm bảo rằng sẽ có một nguồn vốn khác để hoàn trả hay bảo chi nếu công việc cho vay bị phá sản. Đảm bảo tín dụng có vai trò: + Tạo động lực cho người vay trả nợ cho ngân hàng: Vì giá trị của một món vay thường nhỏ hơn giá trị của tài sản làm đảm bảo.
Một ngân hàng thường cho một khách hàng vay tối đa 70% giá trị tài sản thế chấp, cũng có khi thấp hơn, khoảng 50% giá trị của tài sản, tùy thuộc vào từng loại tài sản làm đảm bảo. Như vậy trong trường hợp người đi vay không chủ động thực hiện trả nợ cho ngân hàng thì ngân hàng phát mãi tài sản của khách hàng … + Làm nản lòng những người đi vay nhưng có ý định giật nợ: Đối với những người đi vay có ý định lừa đảo nếu ngân hàng cho vay tín chấp thì điều đó đối với họ dễ thực hiện hơn. Một khi ngân hàng đặt yêu cầu người đi vay phải có tài sản 14 làm đảm bảo thì làm cho ý định lừa đảo không còn vì có được những lợi ích đối với tài sản làm đảm bảo. + Là tuyến phòng thủ của ngân hàng: Thực hiện ký kết hợp đồng thế chấp và cầm cố, hay hợp đồng bảo lãnh là thiết lập cơ sở pháp lý của khoản tín dụng đã cấp với những tài sản của người vay hay người thứ ba thì không thu được nợ sẽ có thể dựa vào việc bán tài sản có thể thu hồi nợ.
Người đi vay phải có trách nhiệm chủ động thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng đồng tiền thu về được khi đầu tư sản xuất kinh doanh. Có hai hình thức bảo đảm tín dụng: + Đảm bảo đối nhân: là một hợp đồng, qua đó một người (người bảo lãnh), cam kết với Ngân hàng rằng sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng trong trường hợp khách hàng vay vốn mất khả năng trả nợ. + Đảm bảo đối vật: là hình thức xác định những cơ sở pháp lý để ngân hàng có được những quyền hạn nhất định đối với tài sản của khách hàng vay, nhằm tạo ra nguồn thu nợ thứ 2 khi người mắc nợ không trả hay không có khả năng trả nợ. Lãi suất tín dụng Lãi suất tín dụng là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức thu được so với số vốn bỏ ra ban đầu của chủ sở hữu trong một khoảng thời gian xác định.
Rủi ro tín dụng *Khái niệm rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Hay nói cách khác rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do nguyên nhân chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động tín dụng và có thể làm cho ngân hàng bị phá sản. Đây là rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây hậu quả nặng nề nhất. Biểu hiện rủi ro: Nợ xấu càng cao, đó là biểu hiện của rủi ro tín dụng, theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 và Quyết định sửa 15 đổi bổ sung số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 4 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.