Chương 1: Giới thiệu chung Chương 2: Tổng quan về lí thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 5 Chương 2: Tổng quan về lí thuyết 2. Các định nghĩa có liên quan đến đề tài nghiên cứu Nông nghiệp là phân ngành trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân, bao gồm các lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản (Điều 3 – Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010). Nông hộ là hộ nông dân có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất. Nói chung, đó là các gia đình sống bằng thu nhập từ nghề nông.
Ngoài ra, hộ còn có thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ. Hộ là tế bào của xã hội với sự thống nhất của các thành viên có cùng huyết thống, mà mỗi thành viên đều có nghĩa vụ và trách nhiệm làm tăng thu nhập, đảm bảo cho sự tồn tại của hộ (Frank Ellis, 1998). Tín dụng: Xuất phát từ Credit trong tiếng Anh – có nghĩa là lòng tin, sự tin cậy, sự tín nhiệm. Tín dụng được diễn giải theo ngôn ngữ Việt Nam là sự vay mượn.
Căn cứ theo chủ thể trong quan hệ tín dụng, các hình thức tín dụng chủ yếu bao gồm: tín dụng nhà nước, tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại. Trong đó, tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng là các hình thức tín dụng chính thức, tín dụng thương mại là hình thức tín dụng phi chính thức (Phạm Hoài Bắc, 2003). Tín dụng nông thôn là các khoản vay dành cho tổ chức, cá nhân trên địa bàn nông thôn, phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác liên quan đến nông trại và phi nông trại. Tín dụng thương mại là hình thức tín dụng trong đó người bán, nhà cung cấp đồng ý cho người mua trả chậm giá trị hàng hóa đã mua trong một khoảng thời gian nhất định (Trần Ái Kết, 2009).
6 Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân (Điều 4 – Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đã được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2010). Vai trò của tín dụng đối với sự phát triển kinh tế nông thôn Tín dụng được các nhà kinh tế công nhận là có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tín dụng trong thời kì bao cấp được xem như một công cụ cấp phát thay ngân sách.
Còn trong nền kinh tế thị trường tín dụng là tập trung huy động nhiều nguồn vốn, gắn liền với sử dụng vốn có hiệu quả để đầu tư phát triển kinh tế nông thôn, tạo điều kiện tích lũy vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tín dụng thực sự là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển cũng như mở rộng thương mại dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn. Theo Nguyễn Bích Đào (2008), tín dụng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn và được thể hiện qua các mặt sau: Một là, tín dụng góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tài chính nông thôn. Thị trường tài chính ở nông thôn là nơi giải quyết quan hệ cung cầu về vốn, nhằm thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế nông thôn.
Thị trường tài chính nông thôn bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Trong thị trường này, ngân hàng nông nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng, vì nó có hệ thống chân rết đến tận huyện. Mặt khác từng xã, khu vực còn có quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Chính hoạt động tín dụng đã hình thành và đẩy nhanh sự phát triển của thị trường tài chính, tín dụng ở nông thôn.
Hai là, hoạt động tín dụng đã góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn, tư liệu sản xuất, khoa học công nghệ để phát triển kinh tế nông thôn. Trong nông thôn hiện nay, số hộ dân khá đang giàu lên chiếm tỉ lệ ngày càng cao do họ có trình độ sản xuất kinh doanh, tiếp thu được khoa học kĩ thuật, họ quyết định được sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai và sản xuất như thế 7 nào? Để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Ngược lại, có những hộ không có kinh nghiệm, kinh doanh không có hiệu quả dẫn đến lỗ, hoặc có ruộng đất quá ít so với nhu cầu của họ hoặc thiếu vốn cho quá trình sản xuất. Trong mọi trường hợp, đồng vốn tín dụng của ngân hàng đã giúp hộ có khả năng giải quyết được khó khăn trong sản xuất kinh doanh và góp phần tăng thu nhập cho hộ.
Quy mô sản xuất của hộ càng lớn, thì càng có khả năng đứng vững hơn trong cạnh tranh, bởi lẽ khi có vốn, người nông dân có thể áp dụng các biện pháp khoa học kĩ thuật để tăng năng suất, tăng sản lượng, tăng tỉ trọng hàng hóa và hạ giá thành sản phẩm. Trên cơ sở đó, họ có khả năng dễ dàng trong việc tích tụ và tập trung vốn. Ba là, tín dụng đã góp phần tận dụng khai thác mọi tiềm năng về đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên. Tiềm năng về phát triển ở nông thôn nước ta là rất lớn, nếu được nhà nước quan tâm đúng mức với những chính sách vĩ mô thích hợp, đặc biệt là nếu có chính sách đầu tư tín dụng hợp lí, thì chắc chắn những khả năng tiềm tàng mà lâu nay chưa được sử dụng sẽ được động viên khai thác triệt để và phát huy hiệu quả.
Sức lao động được giải phóng kết hợp với đất đai được giao quyền sử dụng lâu dài cho ttừng hộ gia đình sẽ đóng góp ngày càng nhiều hơn, phong phú hơn hàng hóa nông sản thực phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu của đất nước. Bốn là, tín dụng đã góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho nông dân tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh. Trong điều kiện hiện nay, đời sống nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở vật chất kĩ thuật lạc hậu. Muốn cải thiện tình hình đó phải tăng cường đầu tư vốn phát triển nông thôn.
Chính vì lẽ đó, vốn đầu tư của ngân hàng không những tham gia vào quá trình sản xuất bằng nhiều hình thức bổ sung vốn lưu động, mà còn là vốn đầu tư trung hạn và dài hạn nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật tiên tiến cho quá trình sản xuất. Năm là, tín dụng tạo điều kiện phát triển ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong nông 8 thôn. Chính việc xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng các xí nghiệp chế biến nông sản đã thu hút một số lượng lớn lao động dư thừa trong nông thôn, tạo việc làm cho họ. Đồng thời dựa vào lợi thế so sánh của nước ta với khu vực và thế giới, giữa các vùng khác nhau cần thiết phải duy trì và phát triển ngành nghề nông thôn.
Kinh tế hàng hóa càng phát triển thì sức mạnh cạnh tranh ngày càng lộ rõ, tất yếu dẫn đến phân hóa giàu nghèo ở nông thôn, có hộ sẽ phát triển thêm về nông nghiệp, có hộ sẽ rời khỏi nông nghiệp làm nghề khác như tiểu thủ công nghiệp, các nghề truyền thống. Sáu là, tín dụng đã tạo cho người dân không ngừng nâng cao trình độ sản xuất, tăng cường hạch toán kinh tế đồng thời tạo tâm lí tiết kiệm tiêu dùng. Hộ gia đình là một đơn vị kinh tế tự chủ, sản xuất kinh doanh lời ăn lỗ chịu. Do vậy bắt buộc bản thân hộ gia đình muốn tồn tại và phát triển thì phải đáp ứng được những yêu cầu mới.
Trong thời đại cách mạng khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão đòi hỏi người nông dân phải không ngừng nâng cao trình độ của mình. Kết quả cuối cùng đã ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân và gia đình họ. Bảy là, tín dụng góp phần đảm bảo hiệu quả xã hội, nâng cao cuộc sống tinh thần vật chất cho người nông dân. Hoạt động tín dụng thực hiện tốt sẽ góp phần hạn chế nạn cho vay nặng lãi trong nông thôn.
Trước đây chính sách đầu tư tín dụng không được quan tâm thích đáng nên vốn cho nông dân được cung cấp chủ yếu thông qua thị trường tài chính không chính thức. Từ năm 1990 về trước khi chưa có chính sách cho nông dân vay vốn, các hộ nông dân phải tự đi vay với lãi suất cao từ 10 – 15%/tháng có khi đến 20%/tháng từ những hoạt động cho vay đã góp phần hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi, người dân đỡ bị bóc lột hơn và kết quả là sau quá trình sản xuất người dân thực sự được hưởng thành quả lao thành quả lao động của họ. Cung tín dụng nông thôn và đặc điểm của thị trường tín dụng nông thôn Tín dụng nông thôn là các khoản vay dành cho tổ chức, cá nhân trên địa bàn nông thôn, phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác liên quan đến nông trại và phi nông trại. Nông nghiệp nông thôn với những đặc điểm như quy mô rộng lớn, các hoạt động liên quan trực tiếp đến yếu tố tự nhiên, giá cả đầu vào và đầu ra thường xuyên biến động, … nên thị trường tín dụng nông thôn cũng mang những đặc trưng riêng, khác với các thị trường khác, cụ thể: + Chi phí giao dịch cao: Đối tượng khách hàng của thị trường tín dụng nông thôn khá phong phú như hộ gia đình nông dân, các trang trại, cơ sở kinh doanh nông sản, các doanh nghiệp nông thôn và người lao động không có đất canh tác.
Do đó, việc thiết kế các sản phẩm dịch vụ tín dụng phù hợp cho từng đối tượng trở nên rất khó khăn. Mặt khác, khách hàng cư trú trên quy mô rộng lớn, mức độ phân tán cao cộng với cơ sở hạ tầng của khu vực nông thôn còn yếu về giao thông vận tải và thông tin liên lạc đã đẩy chi phí giao dịch lên cao. Quá trình tiếp thị sản phẩm, thời gian đi lại trước, trong và sau khi cho vay thường phải kéo dài nhưng lại chỉ cho vay được những món vay nhỏ khiến các tổ chức tài chính e ngại khi tham gia vào phân khúc thị trường này. + Tồn tại nhiều rủi ro: Thị trường tín dụng nông thôn tồn tại nhiều rủi ro là do bản chất của hoạt động nông nghiệp mang lại.