Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại; Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam; Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng của ngân hàng thương mại Tín dụng ra đời cùng với sự phát triển và trao đổi hàng hóa.
Tín dụng xuất phát từ ngôn ngữ La tinh Creditium là sự tin tưởng, sự tín nhiệm và được định nghĩa dưới nhiều giác độ khác nhau: - Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả. - Tín dụng là quá trình tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ hay hiện vật trên nguyên tắc có hoàn trả. - Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. - Tín dụng là sự chuyển dịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổ chức, cá nhân này cho một tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong một thời gian nhất định trên nguyên tắc hoàn trả.
Như vậy, tín dụng có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa một bên là người đi vay và một bên là người cho vay trên cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi (Nguyễn Minh Kiều, 2013). Đối với NHTM, tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng. Tín dụng ngân hàng (TDNH) được định nghĩa như sau: TDNH là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng và bên đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán (Lâm Chí Dũng, 2015). Có ba loại quan hệ chủ yếu trong quan hệ TDNH, bao gồm: 8 - Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với doanh nghiệp.
- Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với dân cư. - Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các ngân hàng khác trong và ngoài nước. Ngày nay, TDNH đã và đang là nhân tố thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, điều tiết và di chuyển vốn, tăng thêm tính hiệu quả của vốn tiền tệ trong nền kinh tế thị trường. Đặc điểm tín dụng của ngân hàng thương mại Theo Lâm Chí Dũng (2015), hoạt động tín dụng ngân hàng có đặc điểm sau: Thứ nhất: Quan hệ tín dụng được thiết lập trên cơ sở lòng tin.
Các doanh nghiệp tin rằng sau một khoảng thời gian nhất định, phương án và dự án kinh doanh của họ sẽ có hiệu quả và tạo ra lợi nhuận đảm bảo nguồn trả nợ cho ngân hàng. Các ngân hàng cũng tin tưởng rằng sau khoảng thời gian đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, khách hàng sẽ hoàn trả đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi vay. Như vậy cơ sở lòng tin này được hình thành thông qua uy tín của doanh nghiệp, giá trị tài sản đảm bảo, tính khả thi và hiệu quả của phương án SXKD, uy tín của người bảo lãnh… Thứ hai: TDNH được thực hiện dưới nhiều hình thức như cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cho thuê. Dựa trên một số yếu tố: thời hạn cho vay (ngắn, trung, dài hạn), phương thức cho vay (từng lần, hạn mức tín dụng, trả góp, thấu chi) hay mục đích của mình mà khách hàng có thể lựa chọn các hình thức của tín dụng ngân hàng sao cho phù hợp nhất.
Thứ ba: TDNH mang tính thời hạn. Thời hạn của một khoản vay phụ thuộc vào đặc điểm luân chuyển vốn, chu kỳ SXKD của doanh nghiệp, tính chất nguồn vốn của ngân hàng. Thứ tư: TDNH mang tính hoàn trả. Khách hàng vay vốn sử dụng vốn vay, sau một thời hạn quy định trong hợp đồng phải hoàn trả cả gốc và lãi tiền vay.
Lãi cho vay chính là chi phí cho việc sử dụng vốn của khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Thứ năm: Tín dụng ẩn chứa nhiều rủi ro do sự không cân xứng về thông tin và người cho vay không hiểu rõ hết về người đi vay. Một mối quan hệ tín 9 dụng được gọi là hoàn hảo nếu người đi vay hoàn trả được đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn. Thứ sáu: Phạm vi hoạt động của TDNH là toàn bộ nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường hầu như mọi quan hệ trao đổi đều có thể tiền tệ hóa, do vậy với công cụ thực hiện chủ yếu là “tiền tệ” nên TDNH có thể tham gia vào mọi quan hệ xã hội. Điều đó được biểu hiện ra bên ngoài là các NHTM có thể huy động vốn tiền tệ, cho vay và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho hầu hết mọi chủ thể trong xã hội. Phân loại tín dụng của ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Thị Mùi (2015), tín dụng của NHTM tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy theo mục đích của người sử dụng thông tin mà phân loại tín dụng theo những loại khác nhau. Thông thường tín dụng của NHTM được phân loại như sau: a.
Căn cứ theo thời hạn cho vay Tín dụng ngắn hạn: là loại hình cho vay có thời hạn đến 12 tháng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Tín dụng trung hạn: là loại hình cho vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng chủ yếu nhằm mục đích đầu tư mua sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất, mở rộng SXKD, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh… Tín dụng dài hạn: là loại hình cho vay có thời hạn từ trên 60 tháng nhằm mục đích xây dựng cơ bản, đầu tư các dự án có quy mô lớn. Căn cứ theo mục đích cho vay Tín dụng nông nghiệp và nông thôn: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp: phân bón, nhân công, giống cây trồng. Tín dụng công nghiệp và thương mại: là loại hình cho vay đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
Tín dụng bất động sản: là loại hình cho vay để đáp ứng chi phí liên quan đến mua sắm và xây dựng bất động sản, nhà ở, đất đai. Tín dụng tiêu dùng: Là loại hình cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân và hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp họ trang trải 10 cho nhu cầu mua sắm đồ dùng gia đình, xe cộ, nhu cầu giáo dục, y tế, du lịch. Căn cứ theo khách hàng vay vốn Căn cứ theo khách hàng vay vốn, hoạt động tín dụng có thể chia thành: Tín dụng đối với cá nhân: là loại hình cho vay để bù đắp nhu cầu tiêu dùng cá nhân.
Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy theo mục đích sử dụng vốn vay và nguồn trả nợ của cá nhân. Tín dụng đối với tổ chức/doanh nghiệp: là loại hình cho vay để phục nhu cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy vào nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Căn cứ theo phương thức cho vay: Cho vay từng lần: Là hình thức cho vay đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện được cấp hạn mức thấu chi.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Cho vay hợp vốn: Các ngân hàng cùng cho vay với một dự án hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó, có một ngân hàng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức khác. Cho vay trả góp: Ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Cho vay theo hạn mức thấu chi: nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Căn cứ mức độ tín nhiệm của khách hàng Cho vay không đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp hoặc cầm 11 cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở có đảm bảo như tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba f. Căn cứ theo hình thức tín dụng Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ).
Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong thời gian xác định. Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết bằng văn bản sẽ thực hiện các nghĩa vụ thay cho người được bảo lãnh nếu người này không thực hiện được nghĩa vụ đó. Cho thuê tài chính là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thoả thuận nhất định. Vai trò của tín dụng NHTM 1.
Vai trò của tín dụng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu của NHTM, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận nhiều nhất cho một NHTM. Trong nền kinh tế thị trường, NHTM đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội, là trung gian chuyển vốn từ người có vốn tạm thời nhàn rỗi sang người thiếu vốn để đầu tư.