chương 1 Chương này trình bày tầm quan trọng của đề tài, các mục tiêu của đề tài, giới hạn về không gian, thời gian nghiên cứu của đề tài. Kết quả mong đợi và cuối cùng là bố cục của đề tài. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm tín dụng chính thức Tín dụng chính thức là hình thức tín dụng hợp pháp, được sự cho phép của nhà nước.
Các thành phần tín dụng chính thức hoạt động dưới sự giám sát và chi phối của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Các nghiệp vụ hoạt động phải chịu sự quy định của Luật ngân hàng như quy định khung lãi suất, huy động vốn cho vay… và những dịch vụ mà chỉ có các tỗ chức tài chính chính thức mới cung cấp được. Các tổ chức tài chính chính thức bao gồm: Ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng nhân dân, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, các chương trình trợ giúp và phát triển của chính phủ. Thị trường tín dụng chính thức: là nơi diễn ra công khai các hoạt động giao dịch vốn tín dụng giữa các tổ chức tín dụng là trung gian tài chính với chủ thể cần vốn tuân thủ theo pháp luật nhà nước.
Tổ chức cung ứng vốn là các trung gian tài chính được thành lập theo pháp luật như: Hệ thống ngân hàng, Quỹ tín dụng nhân, các công ty tài chính… Tín dụng phi chính thức bao gồm những giao dịch tín dụng theo kiểu tài chính trực tiếp giữa các chủ thể kinh tế với nhau và những giao dịch tài chính gián tiếp không thông qua những tổ chức tín dụng hoạt động trong khuôn khổ của luật Tổ chức tín dụng. Tín dụng đen là hình thức cho vay tín dụng với lãi suất cao cùng với các quy định chi trả do một cá nhân, nhóm cá nhân hay tổ chức nằm ngoài kiểm soát của pháp luật đề ra (Tạp chí khoa học trường Đại học Hồng Đức số 53. Khái niệm về nông hộ Hộ: Là tất cả những người sống chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó cùng chung huyết tộc và người làm công, cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung một ngân quỹ (Mc, 1989). Nông dân: Là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp.
Nông dân sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề khác…, còn đất đai là tư liệu sản xuất. Người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội. Hộ nông dân: Là hộ gia đình, mà hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định.
7 Như vậy, hộ nông dân là những hộ mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông nghiệp. Theo Frankellis (1988), nông hộ được khái niệm như một hộ gia đình mà các thành viên trong hộ sẽ dành phần lớn thời gian cho các hoạt động nông nghiệp cũng như một số hoạt động liên quan đến thị trường các yếu tố đầu vào và đầu ra. Trong nghiên cứu này những nông hộ được khảo sát bao gồm những nông hộ tham gia hoạt động nông nghiệp có vay vốn từ các tổ chức TDCT, phi chính thức và nông hộ không có vay vốn. Khái niệm, vai trò của hộ nông dân trồng lúa 2.
Khái niệm hộ nông dân trồng lúa Từ những khái niệm trên có thể rút ra khái niệm về hộ nông dân trồng lúa như sau: ”Hộ nông dân sản xuất lúa là hộ nông dân sống ở vùng nông thôn có các ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, dành một phần hoặc toàn bộ diện tích cho canh tác lúa, lúa sử dụng cho mục đích kép: Tự tiêu – hàng hóa và đóng góp vào nguồn thu nhập của nông hộ”, (Hồ Cao Việt, 2006). Vai trò của hộ trồng lúa trong nền kinh tế - Cấu thành cấu trúc làng xã – nông thôn - Cung cấp lượng lao động, giá nhân công thấp cho nông nghiệp và phi nông nghiệp. - Cung cấp phần lớn lượng lương thực cho tiêu thụ nội địa và đãm bảo an ninh lương thực. - Cung cấp phần lớn nông sản xuất khẩu, mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
Hộ sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp là phân ngành trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân, bao gồm các lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản (Điều 3 - Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/06/2015). Hộ sản xuất nông nghiệp là hộ chuyên sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, kinh tế gia đình và một số hoạt động khác nhằm phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp) có tính chất tự sản xuất, do cá nhân làm chủ hộ, tự chịu trách nhiệm toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh. Hoạt động tín dụng hộ sản xuất nông nghiệp là 8 việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng cho hộ sản xuất nông nghiệp. Đặc điểm vốn của nông nghiệp Do tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp, vốn sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm sau: - Ngoài tư liệu lao động sản xuất trong nông nghiệp có nguồn gốc kỹ thuật còn có tư liệu lao động có nguồn gốc sinh học như: cây lâu năm, súc vật làm việc, súc vật sinh sản.
Trên cơ sở quy luật sinh học, các tư liệu sản xuất này thay đổi giá trị sử dụng của mình khác với tư liệu sản xuất có nguồn gốc kỹ thuật. Với sự tác động của vốn sản xuất vào quá trình sản xuất và hiệu quả kinh doanh không phải một cách trực tiếp mà kinh doanh qua đất, vật nuôi cây trồng, để sử dụng vốn sản xuất hiệu quả phải phù hợp với yêu cầu từng loạt đất, từng đối tượng là sinh vật. Về chu kỳ sản xuất dài và có tính thời vụ làm cho sự tuần hoàn và luân chuyển vốn chậm, kéo dài thời gian thu hồi vốn làm cho vốn ứ động. Sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện tự nhiên nên việc sử dụng vốn gặp nhiều rủi ro, làm tổn thất hoặc giảm thiểu hiệu quả sử dụng vốn.
Bản chất kinh tế nông hộ Bản chất của kinh tế nông hộ là các thành viên trong nông hộ làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân gia đình mình. Mặt khác, kinh tế nông hộ là nền sản xuất nhỏ mang tính tự cung, tự cấp hoặc có sản xuất hàng hóa với năng suất lao động thấp nhưng có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng. Tính tự chủ trong kinh tế nông hộ được thể hiện ở những đặc điểm sau: Làm chủ quá trình sản xuất và tái sản xuất trong nông nghiệp. Sắp xếp, điều hành phân công lao động trong quá trình sản xuất.
Quyết định phân phối sản phẩm làm ra sau khi thực hiện xong các nghĩa vụ về thuế đối với nhà nước, được quyền sử dụng phần còn lại. Nếu có sản phẩm dư thừa, hộ nông dân có thể đưa ra thị trường tiêu thụ đó là sản phẩm hàng hóa. Sự khác nhau giữa kinh tế nông hộ với các thành phần kinh tế khác Kinh tế nông hộ là thành phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nói chung, ở nước ta hiện nay dân số và lao động sống ở nông thôn vẫn chiếm tỷ trọng cao. số lượng hộ gia đình ở nông thôn nói chung cũng như số hộ nông dân không 9 ngừng tăng lên.
Kinh tế nông hộ có các đặc điểm khác với các thành phần kinh tế khác như: vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng, các thành viên trong nông hộ thống nhất với nhau về hành động, đều làm việc hết sức mình để có thu nhập cao cho gia đình. Sự phân công trong nông hộ có ưu điểm mà các thành phần kinh tế khác không thể có được: đó là tính tự nguyện, tự giác cao và tận dụng tối đa khả năng của mỗi người trong lao động. Trong quá trình quản lý phân phối sản phẩm được xử lý nhanh, kịp thời, các quyết định điều hành được đúng đắn. Tóm lại, kinh tế nông hộ phát triển với tư cách là những đơn vị tự chủ, trong quá trình đổi mới đã có những đóng góp to lớn vào sản xuất của nước ta, tạo ra sự tăng trưởng liên tục về lương thực và các ngành sản xuất khác trong nông nghiệp.
Kinh tế hộ ở nông thôn là loại hình sản xuất có hiệu quả về kinh tế xã hội, tồn tại và phát ưiển lâu dài, có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục đẩy mạnh kinh tế hộ phát triển hơn nữa. Một số khái niệm tín dụng Tín dụng xuất phát từ chữ Credit trong tiếng Anh - có nghĩa là lòng tin, sự tin cậy, sự tín nhiệm. Tín dụng được diễn giải theo ngôn ngữ Việt Nam là sự vay mượn.
Quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tác hoàn trả. Tín dụng có những tính chất quan trọng sau: - Là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền (hiện kim) hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không làm thay đổi quyền sở hửu của chúng. - Tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải được hoàn trả. - Giá trị của tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng cao nhờ lợi tức.
Căn cứ theo chủ thể trong quan hệ tín dụng, các hình thức tín dụng chủ yếu bao gồm: tín dụng nhà nước, tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại. Trong đó tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng là các hình thức TDCT, tín dụng thương mại là hình thức tín dụng phi chính thức (Phạm Hoài Bắc, 2003). Tổ chức tín dụng Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. TCTD bao gồm ngân hàng, TCTD phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô 10 và quỹ tín dụng nhân dân (Điều 4 - Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đã được Quốc hội thông qua ngày 16/06/2010).
Tiếp cận tín dụng Tiếp cận tín dụng là xác suất mà người vay có khả năng nhận được hoặc không nhận được tín dụng, thể hiện mức độ tín dụng mà người vay có thể nhận được.