Chương 1. Cơ sở lý luận về phân tích kết quả hoạt động kinh doanh du lịch. Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2010-2019, Chương 3. Giải pháp nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bản tỉnh Quảng Nam.
CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAN TICH KET QUA HOAT DONG KINH DOANH DU LICH 1.1 Những vấn đề chung về kết quả hoạt động kinh doanh du lich 1.1 Hoạt động kinh doanh dụ lịch a. Khái niệm về du lịch Theo TSA: RMF 2008 và IRTS 2008 thi “Du lich (Tourism): Id cdc hoạt động của du khách ở nơi ngoài môi trường sinh hoạt hàng ngày trong thời gian không quá một năm liên tục với mục đích chỉnh không liên quan tới hoạt động kiếm tiền ở nơi họ đến ”. Theo định nghĩa trên thì chỉ được coi là du lịch khi hội đủ các điều kiện Sau: Thứ nhất, về không gian thì người đi du lịch phải rời khỏi môi trường. thường xuyên của mình, nghĩa là loại trừ các chuyến đi trong phạm vi của nơi ở thường xuyên, các chuyến đi thường xuyên định kỳ có tính chất phường hội giữa nơi làm việc và nơi ở, các chuyến đi phường hội khác có tính thường xuyên hằng ngày.
Thứ hai, về thời gian theo qui định trước của các tổ chức du lịch, trừ trường hợp di cư trong một thời gian dài thì phải đảm bảo đủ độ đài của thời gian (Thời gian kéo dài ít hơn một năm). Thứ ba, về mục đích của chuyến đi không phải đi để kiếm tiền trong phạm vi của nơi tới thăm, qui định này loại trừ việc hành nghề lâu dài hoặc tạm thời trong các hoạt động du lịch. Tác giả lấy các định nghĩa thống kê về du lịch của IRTS 2008 làm chuẩn để nghiên cứu các vấn đề về thống kê kết quả hoạt động kinh doanh du lịch trong luận văn này. Khái niệm về hoạt động kinh doanh du lịch Theo Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam xác định “Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch”.
Đặc điểm hoạt động kinh doanh dụ lịch Nghiên cứu bắt cứ hoạt động kinh doanh nào đều không thể không đẻ ập đến sản phẩm của hoạt động đó. Du lịch là một ngành đặc biệt từ sản phẩm, tính chất hoạt động cho đến phương thức kinh doanh. Để hiểu rõ hơn về đặc điểm kinh doanh du lịch thì cần phải xem xét thế nào là sản phẩm du lịch và những nét đặc trưng của du lịch. + Đặc điểm của sản phẩm du lịch Theo Luật du lịch Việt Nam thì Sản phẩm du lịch là tập hợp tắt cả các dịch vụ cần thiết nhằm thoả mãn các nhu cầu của du khách trong chuyến du lịch.
Như vậy sản phẩm du lịch là tổng hợp tất cả các yếu tố khác nhau bao. gồm các hàng hóa, dịch vụ đáp ứng những nhu cầu và mong muốn của du khách, được tạo nên bỏ kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên và yếu tổ xã hội với việc sử dụng các nguồn lực; là việc kết hợp những món hang cụ thể hoặc không cụ thể (như bầu không khí, chất lượng phục vụ. Qua đó, sản phẩm du lịch bao gồm: ~ Các loại hàng hoá trong dịch vụ du lịch gồm: những hàng hoá thông thường, hàng hoá truyền thống đặc trưng của từng địa phương, tặng phẩm, đồ lưu niệm và các đặc sản. ~ Dịch vụ du lịch là một phần của lao động trong ngảnh du lịch nhằm.
phục vụ khách du lịch, bao gồm dịch vụ sau: hướng dẫn tham quan, đi lại, lưu trú, chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí, vận chuyển và các dich vu bé sung khác. ~ Tài nguyên du lịch là yếu tố quan trọng hàng đầu liên quan đến sự hấp dẫn và thu hút đối với du khách, cũng là lẻu kiện cần để phát sinh các hoạt động du lịch. ~ Tiện nghỉ du lịch là tập hợp tắt cả các điều kiện để phục vụ thuận tiện cho khách du lịch gồm tiện nghỉ trong phòng nghỉ, chất lượng phưong tiện thông tin liên lạc, chất lượng vận chuyển, thủ tục hải quan,. Với tính chất đặc biệt của sản phẩm du lịch đã tạo nên những đặc điểm khác với các loại hình sản phẩm vật chất hay dịch vụ khác: Một, dịch vụ du lịch là một loại sản phẩm tiêu dùng trừu tượng không.
lưu kho lưu bãi (một chỗ ngồi, một đêm ngủ,. Là loại sản phẩm, dịch vụ không bán được thì sẽ mắt đi giá trị chứ không để dành hoặc cất giữ được. Đặc điểm này đã làm cho cung cầu thường lệch pha nhau, thể hiện rõ tính thời vụ trong kinh doanh du lịch là rất đặc thù. Thật vay, tinh thời vụ trong du lịch được thể hiện rất rõ nét, ví dụ các khu du lịch biển ở Việt Nam thường rất vắng khách vào về mùa đông và ngược lại vào mùa hẻ.
Hai, sản phẩm du lịch thường được bán cho khách du lịch trước khi họ thấy được nó (sản phẩm du lịch không hiện hữu trước người mua mà chỉ thông qua quảng cáo hoặc các nguồn thông tin khác) nhất là đối với các sản phẩm du lịch trọn gói. _ đa Ba, việc sản xuất và u thụ các sản phẩm du lịch được thực hiện đồng. thời, tại chỗ và không đem đi tiêu thụ hoặc trưng bảy ở nơi khác được. Bắn, sản phẩm du lịch được tạo ra bởi sự tông hợp các hoạt động kinh doanh khác nhau: khách sạn, nhà hàng, dịch vụ, vận chuyển.
Nam, san phim du lịch thường được bán trọn gói với các loại hình, các tuyến điểm với nhiều tiện nghỉ khác nhau. Sáu, Sản phẩm hàng hoá trên thị trường du lịch có sự đa dạng vượt ra khỏi khuôn khô khái niệm hàng hoá. Ngoài những đặc điểm thông thường thì sản phẩm du lịch còn có cả những thành phần mả bản thân nó không có tính chất hàng hoá hay dịch vụ như bầu không khí, môi trường, cảnh quan thiên nhiên. Sản phẩm du lịch mặc dù đã bán cho người này rồi nhưng vẫn còn nguyên giá trị sử dụng đối với những người mua sau hoặc có hao tổn nhưng.
rit it; là loại hàng hoá nếu càng tiêu dùng thì càng được nâng cao giá trị và ngược lại nêu không tiêu dùng hoặc tiêu dùng ít thì giá trị sẽ mất hoặc giảm đi. Đây chính là đặc điểm đặc biệt của sản phẩm du lịch. + Đặc điểm của hoạt động kinh doanh dự lịch Hoạt động kinh doanh du lịch là hoạt động có tính đặc thù, gồm nhiều thành phẩn, tạo thành một thể phức tạp vừa có tính chất kinh tế vừa có tính chất văn hoá- xã hội. Hoạt động kinh doanh du lịch có các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, hoạt động kinh doanh du lịch phụ thuộc vào tải nguyên du lịch.
Tải nguyên du lịch là cơ sở khách quan, là điều kiện cần để tạo nên các tuyến, điểm du lịch và là điều kiện cần thiết để có hoạt động kinh doanh du lịch. Thứ hai, hoạt động kinh doanh du lịch là hoạt động kinh doanh tổng hợp nhằm mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng cao cấp và đa dạng của du khách vì tiêu dùng trong du lịch thường là tiêu dùng trung cấp và cao cấp. Khách du lịch khi đi du lịch không chỉ có các nhu cẩu nghỉ ngơi, tham quan, giải tri, đi lại mà bên cạnh đó còn có nhu cầu mua sắm các hàng hoá và dich vụ bổ sung khác. Thứ ba, ngoài kinh doanh dịch vụ thì hoạt động kinh doanh du lịch còn phải đảm bảo được các vấn đề về an ninh chính trị và trật tự xã hội cho khách du lịch, cho các địa phương và quốc gia đón tiếp khách.
4L Vai trò của hoạt động kinh doanh du lịch trong nên kinh tế quốc dân + Vai trò kinh tế- xã hội của hoạt động kinh doanh du lịch Ngày 03-05/11/1994 tại OSAKA Nhật Bản. Hội nị ộ trưởng du lịch thế giới của 78 quốc gia,vùng lãnh thổ và 18 chính quyền địa phương, 5 quan sat in da khang dinh tai diém 2 phan I trong tuyén bé du lich OSAKA “ Du lịch là nguồn lớn nhất tạo ra GDP và việc làm của thế g i, chiếm tới 1/10 của mỗi loại, đồng thời đầu tư cho du lịch và các khoản thu từ thuế liên quan tới 10 du lịch tương ứng cũng tăng cao. Nhưng sự gia tăng này củng với các chỉ tiêu khác của du lịch dự đoán sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách vững chắc và như vậy du lịch sẽ là đầu tàu kéo nền kinh tế thế giới trong thế ký XXI ”. Sự phát triển của hoạt động kinh doanh ngành du lịch có ý nghĩa rất lớn cả về mặt kinh tế lẫn xã hội.
- Xết về mặt kinh tế Thứ nhất, hoạt động kinh doanh du đã đóng góp tích cực vào thu nhập quốc dân: Mang lại nguồn thu lớn từ việc kinh doanh du lịch, đặc biệt trong đó là nguồn thu ngoai tệ đã góp phần đóng vai trò quan trọng trong cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Cùng với hàng không dân dụng, cung ứng tàu biển, kiều hối. các hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế hàng năm, các dịch vụ thu ngoại tệ khác đã đem lại rất nhiều ngoại tệ cho những quốc gia, vùng lãnh thổ trong khu vực và trên thế giới, mỗi năm các quốc gia trên thế có thể thu tới hàng tỷ USD từ hoạt động kinh doanh du lich. Thứ hai, hoạt động kinh doanh du lịch là loại hoạt động “xuất khẩu tại chỗ" có hiệu quả cao, những hảng hoá công nghiệp, tiểu thủ công ngi nông lâm sản hảng tiêu dùng.
qua con đường du lịch các hàng hoá xuất khẩu sẽ không bị ảnh hướng bởi hàng rảo thuế quan. Không chỉ vậy du lịch còn “xuất khẩu vô hình” hàng hoá du lịch. Đó là khí hậu ánh nắng mặt trời, cảnh quan thiên nhiên, nét độc đáo của những phong tục tập, quán giá trị của các di tích lịch sir van hod. ma cdc gid tri này sẽ không bị mắt đi cũng như không bị hao mòn qua mỗi lần bán hay sử dụng mà thậm chí giá trị và uy tín còn được tăng lên thông qua quá trình bán và sử dụng nếu như đạt chất lượng phục vụ tốt.
Sở dĩ được như vậy là do khách du lị chỉ mua những giá trị và thoả mãn các nhu cầu về du lịch chứ không phải là mua chính bản thân những tải nguyên du lịch đó.