CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Là một nước đang phát triển, nền kinh tế đang từng bước chuyển đổi và hội nhập thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đó cũng là chủ trương chỉ đạo của Đảng và nhà nước ta trong thời kỳ đoạn này. Việc giao lưu, ký kết hợp tác kinh tế giữa nước ta với các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng và phát triển trong những năm gần đây. Sự phát triển này đồng hành với sự phát triển của các tổ chức tín dụng và tổ chức doanh nghiệp trong cả nước.
Là linh hồn của nền kinh tế, bởi nó chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình thay đổi. Trong cơ chế kinh tế mới ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế đất nước. Theo thống kê của NHNN đến năm 2020, 70% người trưởng thành ở Việt Nam có tài khoản ngân hàng, nhưng gần một nửa trong số họ chưa tiếp cận với tín dụng. Hơn 70% dân số tập trung ở khu vực nông thôn, nơi khả năng tiếp cận các dịch vụ ngân hàng hiện đại còn rất hạn chế.
Đây là một lỗ hổng lớn mà các ngân hàng và tổ chức tín dụng cần nhận thức để có thể hướng dẫn và giới thiệu đầy đủ các sản phẩm, dịch vụ của mình tới đông đảo khách hàng tiềm năng. Mặt khác, trong những năm gần đây, nhờ sự phát triển của công nghệ số và quá trình chuyển đổi số của các ngân hàng, ứng dụng ngân hàng di động đã đóng vai trò to lớn trong lĩnh vực tài chính toàn diện. Các ngân hàng có thể tiếp cận khách hàng mà không cần trụ sở chính hoặc chi nhánh. (Nguồn: theo nghiên cứu của Mambu 27/5/2021.) Hoạt động cho vay là quan trọng nhất đối với ngân hàng vì nó tạo ra doanh thu cao nhất cho Ngân hàng.
Ngân hàng cho vay đối với các công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty tư nhân,… khách hàng truyền thống của các Ngân hàng Việt Nam và Ngân hàng Thương mại Cổ phần là các doanh nghiệp.Tuy nhiên, với sự phát triển của nền kinh tế hiện đại, các cá nhân tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng cũng ngày càng cao, đồng thời các cá nhân không thể huy động vốn như doanh nghiệp. Nên nhu cầu vay vốn ngân hàng của khách hàng cá nhân là rất cần thiết. Do đó, các ngân hàng đang phát triển và tiếp cận với phân khúc khách hàng cá nhân. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam khuyến khích các ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân, các ngân hàng cạnh tranh gay gắt trên thị trường này.
Khi đó, cho vay cá nhân là xu thế tất yếu và là xu hướng phát triển chung của toàn hệ thống ngân hàng. Từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “Phân tích hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Châu Đốc” làm đề tài nghiên cứu khóa luân. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Phân tích hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Châu Đốc, từ đó nhằm giúp Ngân hàng năng cao hơn hiệu quả trong hoạt động này.
Tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận được nguồn vốn và giảm thiểu rủi ro. Mục tiêu cụ thể Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Châu Đốc. Mục tiêu 2: Phân tích các chỉ tiêu hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Châu Đốc. Mục tiêu 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng trong thời gian tới.
PHAM VI NGHIÊN CỨU 1. Không gian Đề tài được nghiên cứu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Châu Đốc. Thời gian Số liệu được sử dụng để phân tích trong bài là kết quả hoạt động của Ngân hàng trong các năm 2019, 2020 và 20121. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Châu Đốc.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Phương pháp thu thập số liệu Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở số liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán và các tài liệu liên quan đến hoạt động cho vay khách hàng cá nhân từ bộ phận Bán lẻ, bộ phận kế toán tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Châu Đốc. Bên cạnh đó còn tìm kiếm và tham khảo từ các nguồn số liệu, tài liệu từ các tạp chí, internet, các giáo trình đã học và các sách, báo có liên quan đến chủ đề này và cả các chuyên đề, khóa luận nghiên cứu trước đây. Phương pháp phân tích số liệu Phân tích số liệu thông qua các phương pháp: - Tổng hợp các số liệu, dữ liệu do ngân hàng cung cấp để làm ra các tiêu chí làm cơ sở cho việc đánh giá phù hợp với hoạt động của ngân hàng.
- Thống kê mô tả: + Số trung bình: X1 Công thức tính: 𝑋= n ∑X i=1 + Phương pháp so sánh số tuyệt đối: Công thức tính: ∆X = X1 − X0 Trong đó: ∆X: là chênh lệch tăng hay giảm của chỉ tiêu năm sau so với năm trước X1: là số liệu năm phân tích X0: là số liệu năm gốc Là phương pháp so sánh một chỉ tiêu bất kì nào đó bằng cách lấy số liệu kỳ phân tích trừ đi số liệu kỳ gốc. Kết quả sẽ cho biết sự biến động tăng hay giảm về mặt độ lớn (giá trị) của chỉ tiêu đó qua từng năm. + Phương pháp so sánh số tương đối: X1 Công thức tính: ∆X= X0 × 100% Trong đó: ∆X: tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu năm sau so với năm trước X1: là số liệu năm phân tích X0: là số liệu năm gốc Là phương pháp so sánh, kết quả cho biết tốc độ tăng hoặc giảm của một chỉ tiêu cụ thể theo thời gian. - So sánh: dựa vào số liệu thống kê với sự biến động của các chỉ số và xu hướng vận hành trong những năm qua đưa ra các so sánh.
Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI Mục đích thực hiện đề tài là có cái nhìn tổng quát hơn về tình hình hoạt động cũng như là hiểu quả cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Châu Đốc. Đối với Ngân hàng: kết quả của đề tài sẽ là một trong những căn cứ để ngân hàng đánh giá tình hình các hoạt động cho vay cá nhân trong 3 năm (từ 2019 đến 2021) của đơn vị thực tập, từ đó cho ta biết những điểm mạnh và điểm yếu của ngân hàng để có biện pháp để cải thiện các hoạt động tín dụng cá nhân của ngân hàng trong thời gian tới. Đối với khách hàng: việc xác định các chỉ tiêu hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng cũng sẽ giúp khách hàng hiểu rõ hơn về ngân hàng, có cái nhìn chính xác hơn và biết được rủi ro, lợi ích khi sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng và bảo vệ quyền lợi của chính mình. Đối với sinh viên thực tập: giúp sinh viên tích lũy, trau dồi thêm nhiều kiến thức và hệ thống lại các kiến thức đã học trong các học kỳ vừa qua, nhận định về lý thuyết và thực tiễn của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng sẽ giúp ích cho sinh viên sắp tốt nghiệp có cái nhìn tổng quan và thực tế hơn, nó cũng là nền tảng và cơ sở đê sinh viên xin việc làm tại các Ngân hàng sau khi tốt nghiệp.
4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm NHTM “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Theo Khoản 3, Điều 4, Luật Các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 06 năm 2010 quy định.
Các ngân hàng thương mại bao gồm: - Ngân hàng thương mại Nhà nước; - Ngân hàng thương mại cổ phần; - Ngân hàng thương mại liên doanh; - Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài. Các hoạt động chủ yếu của NHTM 2. Hoạt động huy động vốn Hoạt động huy động vốn có vai trò rất quan trọng nó quyết định đến quy mô của hoạt động và quy mô tín dụng của ngân hàng. Hoạt động này cũng ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của các ngân hàng trên thị trường trong nền kinh tế.
Theo luật các tổ chức tín dụng hiện hành của nước ta, Ngân hàng thương mại được phép huy động vốn dưới các hình thức sau: - Ngân hàng thương mại được nhận tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác. - Được phát hành chứng chỉ tiền gửi, kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài. - Ngân hàng thương mại được vay vốn của Ngân hàng nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam. - Ngân hàng thương mại được vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Hoạt động cấp tín dụng “Hoạt động cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. “Theo 5 điều 14 luật tổ các tổ chức tín dụng 2010 số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 06 năm 2010 quy định.