phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phân tích hoạt động cho vay DN của NHTM Chƣơng 2: Phân tích hoạt động cho vay DN tại VCB - CN Kon Tum Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay DN tại VCB - CN Kon Tum 8. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để thực hiện đề tài “Phân tích hoạt động cho vay DN tại ngân hàng Ngân hàng TMCP Ngoại Thương chi nhánh Kon Tum”, tác giả đã tham khảo và tìm hiểu một số luận văn sau: 1. Nguyễn Hữu Mạnh Cƣờng (2015),“Phân tích tình hình cho vay khách hàng DN tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh ĐăkLăk”, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng. * Những kết quả đạt đƣợc của luận văn: - Trình bày cơ sở lý luận về hoạt động cho vay DN của NHTM khá đầy đủ, rõ ràng.
- Phân tích tình hình cho vay DN tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam - CN ĐăkLăk một cách cụ thể và chi tiết, từ đó chỉ ra những mặt đã đạt đƣợc cũng nhƣ những hạn chế còn tồn tại. 4 - Dựa trên việc phân tích tình hình cho vay DN, luận văn đã đề xuất những giải pháp nhằm phát triển cho vay DN đồng thời kiểm soát đƣợc rủi ro tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam - CN ĐăkLăk. * Những vấn đề luận văn chƣa làm rõ: - Chƣa phân tích, đánh giá bộ máy quản lý hoạt động cho vay DN của Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam - CN ĐăkLăk. - Chƣa phân tích, đánh giá cơ cấu cho vay DN xét theo hình thức bảo đảm và loại hình DN.
Phạm Quốc Việt (2014), “Phân tích tình hình cho vay DN tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh ĐăkNông”, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng. * Những kết quả đạt đƣợc của luận văn: - Trình bày các lý luận cơ bản về hoạt động cho vay DN. - Phần thực trạng phân tích khá cụ thể, rõ ràng về tình hình cho vay DN tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và phát triển Việt Nam - Chi nhánh ĐăkNông. - Các giải pháp bám sát vào thực tế và thực trạng cho vay DN tại địa bàn.
* Những vấn đề luận văn chƣa làm rõ: - Phần cơ sở lý luận chƣa trình bày về khái niệm, đặc trƣng cơ bản của NHTM và những rủi ro trong hoạt động cho vay DN của NHTM. Bên cạnh đó, luận văn cũng chƣa làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động marketing ngân hàng trong khi phần giải pháp có đề cập đến nội dung này. Quách Tất Nam (2015), “Hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với DN tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đăklăk”, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng. * Những kết quả đạt đƣợc của luận văn: - Hệ thống hóa và đƣa ra các lý luận cơ bản về hoạt động cho vay ngắn hạn đối với DN của NHTM.
5 - Phần phân tích thực trạng cho vay ngắn hạn đối với DN tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đăklăk đƣợc trình bày rõ ràng, cụ thể và chi tiết. - Phần giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với DN khá phong phú, hợp lý dựa trên phần thực trạng đã phân tích trƣớc đó. * Những vấn đề luận văn chƣa làm rõ: - Chƣa phân tích, đánh giá bộ máy quản lý hoạt động cho vay đối với DN của chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đăklăk. - Chƣa phân tích và so sánh thị phần cho vay ngắn hạn đối với DN của chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đăklăk với các ngân hàng khác trên địa bàn.
Nhìn chung các tác giả hệ thống tƣơng đối đầy đủ cơ sở lý luận về hoạt động cho vay của NHTM nói chung và cho vay DN nói riêng. Đối với việc phân tích, đánh giá thực tế: Các luận văn đã khái quát đƣợc cơ bản tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng và đề xuất các giải pháp khá hợp lý và mang tính thực tiễn cao. Bên cạnh những kết quả đã đạt đƣợc, các luận văn trên vẫn còn một số vấn đề chƣa làm rõ. Chính vì vậy, tác giả sẽ kế thừa những kết quả nghiên cứu có tính thực tiễn cao, khắc phục những mặt chƣa làm đƣợc, từ đó tiếp tục nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay DN tại VCB - CN Kon Tum.
6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm và đặc điểm của NHTM a. Khái niệm NHTM Theo quy định tại Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “NHTM là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Trong đó “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. (Điều 6 Luật Ngân Hàng Nhà nƣớc số 46/2010/QH12) Từ những định nghĩa trên về NHTM, có thể nhận thấy: - NHTM là một tổ chức trung gian tài chính quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trƣờng, là cầu nối giữa lĩnh vực tiết kiệm với lĩnh vực đầu tƣ của nền kinh tế với các nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi và cho vay. - NHTM là một loại hình DN cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính phong phú, đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán. Bên cạnh đó, NHTM còn cung cấp rất nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế.
Đặc điểm của NHTM NHTM là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh kiếm lời và theo đuổi mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu. Hiện nay, NHTM thực hiện hai hình thức hoạt động kinh doanh chính là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ đƣợc biểu hiện ở nghiệp vụ nhận tiền gửi dƣới các hình thức khác nhau để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu về 7 vốn nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Các dịch vụ ngân hàng đƣợc biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối, chứng khoán.nhằm mục đích thu phí dịch vụ hoặc hoa hồng.
NHTM là DN có quy mô lớn, hệ số nợ rất cao và cấu trúc tài chính đặc biệt. NHTM là DN có quy mô lớn trên cả giác độ vốn chủ sở hữu và tổng tài sản ở mức hàng nghìn tỷ đồng. Mạng lƣới chi nhánh của các NHTM thƣờng rất lớn và phân tán rộng về địa lý. Bên cạnh đó, nguồn vốn của NHTM lại chủ yếu là nợ đƣợc huy động từ bên ngoài nên hệ số nợ rất cao.
Ngoài ra, cấu trúc tài chính của NHTM cũng đặc biệt hơn so với các DN SXKD khác ở chỗ tài sản tài chính chiếm tỷ trọng lớn và chủ yếu. Tài sản tài chính là những tài sản có giá trị không dựa vào nội dung vật chất của nó mà dựa vào các quan hệ tài chính trên thị trƣờng, các loại tài sản này không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất hàng hóa - dịch vụ, nhƣ: tiền, chứng khoán và các loại giấy tờ có giá.Hình thức tồn tại của những loại tài sản này có thể là chứng từ bằng giấy hoặc những dữ liệu đƣợc lƣu trữ trong máy tính, sổ sách. Hoạt động của NHTM luôn chứa đựng nhiều rủi ro và chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống pháp luật. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM thƣờng xuất phát từ nhiều phía: ngân hàng, khách hàng, hoặc những yếu tố khách quan của thị trƣờng tài chính và nền kinh tế.
Vì những lý do này, hoạt động của NHTM luôn chứa đựng nhiều rủi ro hơn các ngành kinh doanh khác và có ảnh hƣởng sâu sắc tới các ngành khác và toàn bộ nền kinh tế. Là DN có quy mô lớn, hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro, ảnh hƣởng đáng kể đến nhiều hoạt động kinh tế - xã hội nên NHTM luôn chịu sự chi phối, kiểm soát và giám sát chặt chẽ của hệ thống phát luật. Các quy định pháp lý đối với NHTM đƣợc thể hiện trên nhiều mặt của hoạt động kinh doanh hiện nay nhƣ: điều kiện thành lập, tiêu chuẩn của ngƣời lãnh đạo, dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền gửi, an toàn trong hoạt động, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, quy định giới hạn về lãi suất, tỷ lệ tăng trƣởng dƣ nợ tín dụng. Hệ thống các NHTM có sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau rất lớn.
Các 8 NHTM hoạt động nhƣ những mắt xích liên kết chặt chẽ với nhau, chỉ cần một NHTM gặp khó khăn trong hoạt động, đặc biệt là khó khăn về thanh khoản có thể dẫn đến nguy cơ phá sập toàn hệ thống. Do đó, hơn bất cứ ngành kinh doanh nào, rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM luôn có tính lan toả rất nhanh và ảnh hƣởng sâu sắc đến toàn bộ nền kinh tế. Khái niệm và đặc điểm của DN a. Khái niệm DN DN có thể đƣợc hiểu một cách chung nhất là một tổ chức kinh tế đƣợc thành lập nhằm sản xuất, cung ứng sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ trên thị trƣờng.
Tuỳ theo đặc thù về lĩnh vực hoạt động, hình thức tổ chức trong các lĩnh vực khác nhau, DN có thể đƣợc hiểu dƣới các thuật ngữ khác nhau: nhà máy, xí nghiệp, công ty, cửa hàng. Theo Luật DN số 60/2005/QH11 do Quốc hội ban hành ngày 29/11/2005, “DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.