CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔ HÌNH CAMELS TRONG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Theo Farrell (1957), hiệu quả là một phạm trù được sử dụng phổ biến nhằm đánh giá khả năng của một đơn vị trong việc tối đa hóa doanh thu đầu ra trong điều kiện chi phí đầu vào cho trước. Đối với NHTM, là một định chế tài chính trung gian quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế thị trường nhưng xét về bản chất thì NHTM cũng là một doanh nghiệp.
Vì vậy, việc đánh giá hoạt động kinh doanh của một NHTM cũng như khi đánh giá hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, đồng thời cần xem xét thêm các tính chất đặc thù của NHTM. Xét theo nghĩa hẹp, hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM chính là khả năng tạo ra lợi nhuận, đồng thời vẫn đảm bảo an toàn cho các hoạt động của ngân hàng theo các tiêu chuẩn nhất định, hạn chế các rủi ro. Xét theo nghĩa rộng, hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn quan tâm đến cấu trúc tài sản sản nợ và tài sản có, xu hướng tăng trưởng lợi nhuận, khả năng quản lý để kiểm soát thu nhập và chi phí. Mục tiêu phân tích hiệu quả hoạt động NHTM Việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm: Thứ nhất, cung cấp thông tin tài chính giúp nhà quản trị đánh giá được tình hình tài chính và khả năng sinh lời của ngân hàng, xác định điểm mạnh, điểm yếu của ngân hàng.
Qua đó xác định được xu hướng phát triển sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng, xác định những bộ phận kinh doanh, đơn vị hay giám đốc hoạt động chưa hiệu quả. Thứ hai, đánh giá đúng kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong quá khứ, phát hiện kịp thời những thiếu sót, những nhân tố làm giảm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng để từ đó có những biện pháp xử lý kịp thời. Thứ ba, nhận biết và dự đoán trước được những loại rủi ro có thể xảy ra nhằm đưa ra các biện pháp quản trị rủi ro phù hợp 6 Cuối cùng, qua việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng giúp ban lãnh đạo ngân hàng định hướng, đưa ra những quyết định phù hợp, hài hòa giữa các mục tiêu lợi nhuận, rủi ro và an toàn. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng 1.
Nhóm nhân tố khách quan Đây là các nhóm nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà ngân hàng không thể kiểm soát được. Môi trường vĩ mô Mô trường chính trị: Sự ổn định về chính trị tạo môi trường kinh doanh thuận lợi với các doanh nghiệp nói chung và với các NHTM nói riêng. Trong một xã hội ổn định về chính trị, các nhà kinh doanh được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu các tài sản của họ thì họ sẵn sàng đầu tư với số tiền nhiều hơn vào những dự án dài hạn. Sự can thiệp nhiều hay ít của Chính phủ cũng ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, sự can thiệp này có thể là cơ hội nhưng cũng có thể là thách thức.
Do đó, các doanh nghiệp, các NHTM cần phát hiện sớm những cơ hội hoặc thách thức để từ đó có hướng đi thích hợp trong kinh doanh. Môi trường kinh tế - xã hội: NHTM là trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế thị trường, là “cầu nối”giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Do đó, những biến động của môi trường kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Khi nền kinh tế có tăng trưởng cao và ổn định, các khu vực trong nền kinh tế có nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó nhu cầu vay vốn tăng từ đó làm cho các NHTM dễ dàng mở rộng hoạt động tín dụng của mình đồng thời khả năng nợ xấu cũng có thể giảm do năng lực tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế được nâng cao.
Ngược lại, khi môi trường kinh tế, xã hội bất ổn sẽ ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động kinh doanh của các NHTM. Điều này được chứng minh bằng sự sụp đổ hàng loạt của các NHTM trên thế giới khi cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới diễn ra. Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý gồm tính đồng bộ và đầy đủ của hệ thống pháp luật, các văn bản dưới luật, việc chấp hành, trình độ dân trí và hoạt động của cơ quan thanh tra, giám sát. 7 Nếu hệ thống pháp luật không phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế thì sẽ là rào cản cho sự phát triển kinh tế.
Như vậy, môi trường pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh tế nói chung và đối với hoạt động của các NHTM nói riêng, là cơ sở tiền đề cho ngân hàng phát triển nhanh và bền vững. Hoạt động của cơ quan thanh tra, giám sát của NHNN cũng có tác động rất lớn tới sự an toàn và lành mạnh trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Đó là việc NHNN đưa ra các quy định về quy trình, quy chế và những biện pháp để đảm bảo việc giám sát chặt chẽ hoạt động của các NHTM, từ đó ngăn chặn kịp thời, hạn chế các rủi ro trong hoạt đọng kinh doanh của các NHTM. Môi trường công nghệ: Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo điều kiện cho các NHTM nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí đầu vào, đẩy nhanh quá trình cung cấp các sản phẩm dịch vụ với chi phí thấp nhất, tiện lợi nhất, nhanh chóng và kịp thời sẽ thuận lợi hơn trong việc thu hút khách hàng, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM.
Bên cạnh đó, sự phát triển của công nghệ thông tin cũng góp phần vào việc hội nhập và quốc tế hóa các hoạt động giao dịch của NHTM, do đó hiệu quả hoạt động của các NHTM ngày càng được mở rộng và nâng cao. Môi trường vi mô Đối thủ cạnh tranh hiện tại: Sự cạnh tranh giữa các NHTM sẽ khuyến khích các ngân hàng sử dụng và phân bổ các nguồn lực tài chính hiệu quả hơn. Kết quả của quá trình cạnh tranh là ngân hàng nào có hoạt động hiệu quả sẽ tồn tại và phát triển, ngân hàng nào hoạt động kém hiệu quả sẽ thu hẹp phạm vi hoạt động và bị thị trường đào thải. Đối thủ tiềm ẩn: Khi hội nhập diễn ra, những rào cản về pháp lý nhằm hạn chế các hoạt động kinh doanh của các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh được gỡ bỏ.
Khi đó, sức ép cạnh tranh với các NHTM Việt Nam sẽ tăng, sự cọ sát với các NHTM nước ngoài sẽ là động lực thúc đẩy công nghệ đổi mới và cải cách ngân hàng, đem lại hiệu quả hoạt động cao hơn. Khách hàng: Là một bộ phận rất quan trọng, góp phần vào sự phát triển của các ngân hàng. Các NHTM cần nắm bắt tình hình dân cư, sở thích của từng bộ phận dân cư để kịp thời đáp ứng các nhu cầu của họ về sản phẩm và dịch vụ tương ứng. Nhóm nhân tố chủ quan Nhóm nhân tố chủ quan là những nhân tố nằm bên trong nội bộ của chính các ngân hàng.
Khác với nhóm nhân tố khách quan, những nhân tố chủ quan là những nhân tố mà ngân hàng có thể kiểm soát được. Năng lực tài chính: Năng lực tài chính của một NHTM thường được biểu hiện trước hết qua khả năng mở rộng VCSH. Vì VCSH biểu hiện sức mạnh tài chính của một NHTM. Tiềm lực về VCSH ảnh hưởng tới quy mô kinh doanh của ngân hàng như khả năng huy động vốn và cho vay, khả năng đầu tư tài chính và trình độ trang bị công nghệ.
Khả năng huy động vốn trên thị trường liên ngân hàng cũng là một nhân tố thường được dùng để đánh giá năng lực tài chính của một NHTM, nó thể hiện sức mạnh uy tín của ngân hàng trong mối quan hệ với các TCTD khác. Đối với hoạt động của một NHTM thì ngoài vốn tự có, vốn huy động từ các chủ thể trong nền kinh tế thì vốn vay từ NHNN cũng là thành phần không thể thiếu trong cơ cấu vốn của NHTM. Một NHTM có khả năng vay vốn từ NHNN cũng là nhân tố thể hiện năng lực tài chính của bản thân ngân hàng, thể hiện ngân hàng đó đạt được hiêu quả hoạt động tốt dưới con mắt của nhà quản lý. Cơ cấu tổ chức, điều hành: Sự yếu kém trong việc quản trị, điều hành và kiểm soát là nhân tố chính góp phần làm cho hoạt động của NHTM kém hiệu quả.
Năng lực quản trị phản ánh khả năng đề ra và lựa chọn những chiến lược kinh doanh phù hợp, mang lại hiệu quả cao nhất như các chiến lược về hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng, hoạt động thanh toán, dịch vụ, tổ chức bộ máy… Các quy trình về quản lý như: quản lý tài sản có, quản lý rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất… Từ đó, tạo nên một chuẩn mực cho hoạt động ngân hàng thích nghi dần với phương thức quản trị hiện đại. Nguồn nhân lực: Chất lượng của đội ngũ nhân sự là yếu tố có tính quyết định đến sự thành công hay thất bại của một tổ chức. Chất lượng của đội ngũ nhân sự thể hiện ở trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, phong cách ứng xử phù hợp với công việc và mọi tình huống. Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt với nhiều hoạt động đa dạng và mối quan hệ kinh tế với nhiều chủ thể kinh tế hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau.
9 Chiến lược Marketing: Những nội dung cơ bản của marketing là nghiên cứu và phân tích khả năng của thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, định vị thương hiệu, xây dựng thương hiệu và các hoạt động chăm sóc khách hàng. Quá trình này thực hiện tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Chủ trương về đầu tư phát triển công nghệ ngân hàng: Năng lực công nghệ của ngân hàng thể hiện khả năng trang bị công nghệ mới gồm thiết bị và con người, tính liên kết công nghệ giữa các ngân hàng và tính độc đáo về công nghệ của mỗi ngân hàng.