Đặt vấn đề phân tích LĐTA hiện trạng và chế độ sau sự cố Theo bảng sự cố thống kê ở trên, LĐTA huyện Phù Yên tỉnh Sơn La thực tế cho thấy, sự cố luôn có thể xảy ra, do yếu tố tự nhiên và do con người. Khi đó để đảm bảo độ tin cậy của lưới thì chế độ làm việc của lưới cần được quan tâm hàng đầu, đặc biệt là khi LĐTA có các nguồn dự phòng (NDP). NDP được lấy từ lưới lân cận hoặc từ nguồn phát dự phòng. Khi lưới khi bị sự cố hoặc sửa chữa nhiều phần, lưới có thể bị cô lập khỏi nguồn chính.
Để tăng cường ĐTC CCĐ, trong điều kiện có thể các phần lưới sẽ được cấp từ NDP, đó có thể là các nguồn điện phân tán hoặc nối sang sơ đồ lân cận. Trong điều kiện này, ta cần kiểm tra chi tiết chế độ của phần lưới còn làm việc với nguồn điện chính và cả các phần lưới làm việc với NDP để lựa chọn phương thức xử lí. Với lưới điện đang xét của huyện Phù Yên tỉnh Sơn La, trường hợp nặng nề nhất là khi sự cố hoặc cần sửa chữa các phần tử điện ngay sau máy cắt (MC) của nguồn cấp điện chính. Nếu không có các NDP thì toàn bộ lưới phía sau MC sẽ mất điện hoàn toàn.
Tuy nhiên, thực tế trong trường hợp này có thể tận dụng điện năng cung cấp từ các lộ lân cận, đóng vai trò như NDP: một phần cung cấp từ trạm Mộc Châu E17.1 và một phần từ xã Bắc Yên. Tóm lại, để phục vụ nghiên cứu ĐTC CCĐ của ngăn lộ 371 trạm E17.5 ta cần quan 17 tâm tính toán cho các trường hợp sau: - Chế độ xác lập bình thường cấp điện cho ngăn 371 trạm E17. - Chế độ sự cố đầu nguồn, tính cho phần lưới nhận cung cấp từ Mộc Châu trạm E17. - Chế độ sự cố đầu nguồn, tính cho phần lưới nhân cung cấp từ Xã Bắc Yên (hình 6).
Vậy nên ta sẽ thu thập số liệu để tính chế độ cho NDP và sau 1. Ứng dụng phần mềm PSS/Adept 5.0 để tính toán chế độ Lựa chọn các thông số ban đầu vào tính toán Cơ sở để tính toán mô phỏng đoạn lưới dựa trên sơ đồ nguyên lý vận hành thực tế. Các thông số này được cập nhật chính xác vào phần mềm PSS/Adept 5.0 Các thông số gồm có nguồn cấp, thanh cái, nút, loại dây dẫn, chiều dài, phụ tải… Các lựa chọn ban đầu khi sử dụng phần mềm PSS/Adept. Tần số xác lập: f = 50 Hz Chạy và phân tích ở mục Load Flow 1.
Tính toán chế độ hiện trạng LĐTA Tất cả các số liệu cấu trúc lưới đều được dựa vào số liệu thực tế và số liệu phụ tải đầu vào thu thập từ báo cáo khảo sát. Ta xét sơ đồ vận hành thực tế LĐTA ngăn 371 E17.5 huyện Phù Yên tỉnh Sơn La như trong hình 3. Thông số nguồn Nguồn được lấy từ thanh cái máy biến áp E17. Điện áp đo tại thanh cái 35kV, tần số 50Hz 2.
Thông số phụ tải Dữ liệu phụ tải cho trong LĐTA bao gồm công suất tiêu thụ và công suất phản kháng của phụ tải được như cho trong bảng 2. Thông số đường dây Dữ liệu thông số đường dây bao gồm điểm đầu điểm cuối, chiều dài, mã hiệu dây dẫn, thông số điện trở và điện kháng được cung cấp như trong bảng 3 (trang 21) 2. STT Tên phụ tải Sđm (kVA) P (kW) Q (kVar) 1 Pho_Moi 100 72 34.98 20 STT Tên phụ tải Sđm (kVA) P (kW) Q (kVar) 30 Suoi_Tieu 31.43 34 UBX_Da_Do 50 36 17.35 37 UB_Kim_Bon 75 54 26. Chiều dài STT Nút đầu Nút cuối mã dây r 0 (Ω/km) x0 (Ω/km) (km) 1 22B 33/1 0.365 21 Chiều dài STT Nút đầu Nút cuối mã dây r 0 (Ω/km) x0 (Ω/km) (km) 31 190 204 3.365 Ghi chú: Điện trở và điện dẫn của từng loại dây trên 1 đơn vị dài (1km) đã được cho sẵn trong thư viện của chương trình.
Sơ đồ lưới tính toán Lưới điện phân phối ngăn lộ 371 E17.5 (hình 3) được mô phỏng trong PSS/adept như trong hình 4.5 trong PSS/Ade Sau khi nhập thông số đầu vào và tính toán phân bố dòng áp ngăn lộ 371E17.5 hiện trạng, ta tổng hợp lại kết quả trong bảng 5 (trang 86) và đưa ra nhận xét như sau: Nhận xét kết quả từ bảng tính - Từ kết quả ta thấy, điện áp các nút phụ đều nằm trong giới hạn cho phép (∆U CP < ±5%). 23 - Ngoài ra ta cũng thấy rằng dòng điện tính toán trên các nhánh cũng đều nằm trong giới hạn theo điều kiện phát nóng cho phép. - Như vậy kết quả tính chế độ vận hành bình thường của ngăn lộ 371E17.5 như trên là hợp lý. Tính toán chế độ LĐPP sau khi xảy ra sự cố, có xét NDP lân cận 1.
Xét Ta xét phần lưới điện khi xảy ra sự cố nặng nề và được cung cấp bởi nguồn từ Mộc Châu trạm E17.1 như hình 5 bao gồm các phụ tải như sau: Vạn 1, Bản Vặm, Vạn 2, Xanh Vàng, Suối Vạch, UB Kim Bon, Kim Bon, Suối On, Đồng Mã, Bản Bông, Bản In, Suối Vẽ, Suối Lúa, Mó Sách, Đá Mài. Để tính toán phân bố dòng áp của phần lưới đang xét được cấp nguồn từ Mộc Châu, ta cần thu thập thêm số liệu của lộ liên kết nối đến Mộc Châu. Nhập thông số đầu vào và tính toán phân bố dòng áp của ngăn lộ 371 sau khi xảy ra sự cố và được cấp nguồn từ trạm Mộc Châu, ta tổng hợp kết quả tại bảng 6 (trang 90) 24 5 25 Nhận xét kết quả - Sau khi tính toán phân bố dòng áp, ta nhận được kết quả tính như bảng 6 (trang 90). Từ kết quả ta thấy, điện áp các nút phụ đều nằm trong giới hạn cho phép (∆U CP < ±5%).
- Ngoài ra ta cũng thấy rằng dòng điện tính toán trên các nhánh cũng đều nằm trong giới hạn theo điều kiện phát nóng cho phép. - Như vậy chế độ vận hành sau khi bị sự cố của ngăn lộ 371E17.5 và được cấp từ nguồn lân cận qua trạm Mộc Châu như trên là có thể chấp nhận được. Xét x Ta xét mạch điện lưới khi xảy ra sự cố nặng nề được cung cấp bởi nguồn từ xã Bắc Yên bao gồm các phụ tải: Bãi Con, Đá Phổ, Bó Mí Suối Nhào Bó Vả, Bắc Băn Mỏ Đá 3 Suối Tiểu, Tang Lang, Bông Lau, Đá Đỏ, UBX Đá Đỏ, Bãi Sại Để tính toán phân bố dòng áp của phần lưới đang xét được cấp nguồn từ Bắc Yên như hình 6, ta cần thu thập thêm số liệu của lộ liên kết nối đến xã Bắc Yên. Nhập thông số đầu vào và tính toán phân bố dòng áp cho ngăn lộ 371 sau khi xảy ra sự cố và được cấp nguồn từ xã Bắc Yên.
26 6 27 Nhận xét kết quả tính toán: - Sau khi tính toán phân bố dòng áp, ta nhận được kết quả tính như bảng 7 (trang 92). Từ kết quả ta thấy, điện áp các nút phụ đều nằm trong giới hạn cho phép (∆UCP < ±5%). - Ngoài ra ta cũng thấy rằng dòng điện tính toán trên các nhánh cũng đều nằm trong giới hạn theo điều kiện phát nóng cho phép. - Như vậy chế độ vận hành sau khi bị sự cố sau máy cắt của ngăn lộ 371E17.5 và được cấp nguồn từ Xã Bắc Yên như trên là chấp nhận được.
LUẬN CHƯƠNG 1 - Từ các kết quả trên ta thấy sơ đồ hiện trạng LĐTA với ngăn lộ 371 E17.5 vận hành bình thường với các chỉ tiêu chất lượng điện áp nằm trong phạm vi cho phép. - Khi bị sự cố nặng nề có thể xét đến việc cung cấp hỗ trợ từ lưới điện bên cạnh (như NDP). Trong trường hợp này rất nhiều khu vực được cấp điện trở lại, thông qua lưới điện lân cận. Điện áp các nút và khả năng tải các nhánh của sơ đồ liên kết đều nằm trong giới hạn cho phép, các trạm biến áp cung cấp không bị quá tải.
Kết quả trên được lấy làm cơ sở để ta phân tích bài toán ĐTC: có thể áp dụng phương pháp tính toán ĐTC có NDP không bị giới hạn công suất, không cần xét đến hạn chế công suất truyền tải trên các nhánh. 28 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN ĐỘ TIN CẬY VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN ĐỘ TIN CẬY CỦA HỆ THỐNG ĐIỆN 2. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ĐTC CỦA HTCCĐ 2. Hệ thống điện và các phần tử : là tập hợp các phần tử tương tác trong một cấu trúc nhấ nhằm thực hiện một nhiệm vụ xác định, có sự điều khiển thống nhất trong hoạt động.
Bản thân các phần tử có thể có cấu trúc phức tạp nếu xét riêng nó là một hệ thống. : là các bộ phận tạo thành hệ thống mà trong một quá trình nhất định, được xem là một thực thể duy nhất không thể chia cắt được, đặc trưng bởi các thông số dộ tin cậy chung, chỉ phụ thuộc các yếu tố bên ngoài chứ không phụ thuộc và cấu trúc bên trong của phần tử. : là hệ thống trong đó các phần tử là máy phát điện, TBA, đường d tải điện. nhiệm vụ hệ thống là sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng đến các hộ tiêu thụ.
Điện năng phải đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng, điện năng pháp định và ĐTC hợp lý. HTĐ phải được phát triển tối ưu và vận hành với hiệu quả kinh tế cao nhất. Người ta còn sử dụng khái niệm hệ thống CCĐ (HTCCĐ) để chỉ tập hợp các phần tử nằm trong sơ đồ phần lưới điện cung cấp cho phụ tải một khu vực. Khi đó LĐPP có thể hiểu là HTCCĐ địa phương.
Các khái niệm này chỉ có ý nghĩa tương đối (không hoàn toàn chính xác). Độ tin cậy của các phần tử điện trong hệ thống CCĐ Các phần tử của lưới điện như là: đường dây, máy biếp áp, TBĐC. mà độ tin cậy của chúng cùng cách thức ghép nối chúng trong sơ đồ quyết định độ tin cậy của lưới điện. Các phần tử của HTCCĐ trong vận hành đều có thể bị hỏng bất ngờ.
Khả năng này được đặc trưng bởi cường độ hỏng hóc λ(t). Trong nghiên cứu ĐTC lưới điện, thay cho giá trị thực phụ thuộc thời gian, người ta thường dùng giá trị trung bình của λ và gọi là cường độ hỏng hóc trung bình của phần tử trong năm. Khi phần tử bị hỏng, nó được sửa chữa hoặc thay thế bằng phần tử dự trữ, sau đó lại tiếp tục vận hành. Gọi thời gian làm việc là T lv, thời gian sửa chữa sự cố là T h.
Để thể 29 hiện đặc tính này cần sử dụng một đại lượng mới và được gọi là độ sẵn sàng A.