Đặt vấn đề Phân tích giới hạn đóng vai trò rất quan trọng trong việc tiên đoán tải trọng giới hạn cũng như cơ cấu trượt của nền móng công trình, và được dùng để khảo sát cho rất nhiều bài toán khác như: bài toán phân tích ổn định mái dốc, áp lực đất bị động lên tường chắn, phân tích ổn định cống ngầm. Đối với nền đồng nhất sức chịu tải của nền có thể phỏng đoán theo công thức được đề xuất bởi Terzaghi, Meyerhof, Hansen, Vesic…. Tuy nhiên, đối với nền đất không đồng nhất và có điều kiện phức tạp thì các công thức này sẽ không còn phù hợp. Do đó, nhiều thuật toán số dựa trên lý thuyết phân tích giới hạn cận trên và cận dưới đã được đề xuất.
Trong các giải thuật số này, trường chuyển vị hay ứng suất sẽ được xấp xỉ rời rạc bằng phương pháp phần tử hữu hạn (PTHH); sau đó áp dụng định lý cận trên hoặc cận dưới để phỏng đoán tải trọng giới hạn. Vì việc thiết lập phần tử chuyển vị là tương đối dễ dàng hơn so với phần tử cân bằng, nên phương pháp phân tích giới hạn cận trên dùng phương pháp phần tử hữu hạn chuyển vị được quan tâm đáng kể, đặc biệt là phần tử chuyển vị bậc thấp. Tuy nhiên, vấn đề phát sinh khi dùng loại phần tử này là hiện tượng “locking”, kết quả tính toán số không hội tụ hoặc hội tụ chậm. Trong phân tích giới hạn động học, “locking” xãy ra là do điều kiện chảy dẻo được áp đặt.
Các giải pháp để khử hiện tượng locking đã được đề xuất như là (i) dùng phần tử chuyển vị bậc cao; (ii) dùng các phần tử bất liên tục trên biên. Điểm chính của các phương pháp này là nhằm tăng số bậc tự do tổng thể của bài toán, vì vậy sẽ giải quyết được vấn đề locking. Tuy nhiên, chi phí tính toán tăng lên nhiều và việc tạo lưới trong các phương pháp này là tương đối phức tạp. Trong nghiên cứu này, phương pháp PTHH trơn dựa trên cạnh được dùng để xấp xỉ trường chuyển vị.
Khác với phương pháp PTHH truyền thống, ở đây trường biến dạng được dùng là trường biến dạng trung bình được tính toán trên miền làm trơn dựa trên cạnh. Vì 2 trường biến dạng trơn này là hằng số trên miền làm trơn, nên chúng ta chỉ cần áp đặt điều kiện chảy dẻo tại một điểm bất kỳ trong các miền trơn, trong khi đảm bảo điều kiện này thỏa mãn mọi nơi. Do đó, hiện tượng locking được khử, và chi phí tính toán được tối ưu. Khi trường chuyển vị được rời rạc và áp dụng định lý cận trên thì bài toán phân tích giới hạn sẽ trở thành bài toán tối ưu toán học.
Có thể dùng các thuật toán tối ưu tuyến tính hoặc phi tuyến để giải bài toán tối ưu toán học trên. Tuy nhiên, các hạn chế tồn tại là: - Để dùng thuật toán tuyến tính thì tiêu chuẩn dẻo phải được tuyến tính hóa, do đó số ẩn số và điều kiện ràng buộc sẽ tăng đáng kể, dẫn đến chi phí tính toán rất lớn và gây nhiều hạn chế khi phân tích bài toán với số phần tử lớn. - Thuật toán tối ưu phi tuyến có thể dùng để giải bài toán tối ưu phi tuyến. Tuy nhiên, hàm mục tiêu (cực tiểu năng lượng thao tán chảy dẻo đối với bài toán phân tích cận trên) không tồn tại đạo hàm tại những điểm không có biến dạng dẻo, trong khi các thuật toán tối ưu phi tuyến mạnh đều đòi hỏi hàm mục tiêu phải tồn tại đạo hàm mọi nơi.
Gần đây, thuật toán tối ưu nón bậc hai (second-order cone programming) được phát triển để khắc phục các vấn đề trên. Hơn nữa, phần lớn các tiêu chuẩn chảy dẻo đều có thể chuyển về dạng hình nón bậc hai. Do đó, trong nghiên cứu này thuật toán tối ưu nón bậc hai sẽ được áp dụng để giải bài toán phân tích giới hạn cho các bài toán địa kỹ thuật. 2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước đối với ngành địa kỹ thuật 2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới đối với ngành địa kỹ thuật Phân tích giới hạn đã trở thành một công cụ rất mạnh cho việc phân tích các bài toán ổn định trong kết cấu lẫn địa kỹ thuật.
Do vậy, nghiên cứu phân tích giới hạn được đẩy mạnh và đạt nhiều thành tựu trong vài thập kỷ vừa qua. Nhiều phương thức số cũng như kỹ thuật tối ưu được phát triển cho bài toán phân tích giới 3 hạn. Kỹ thuật phân tích giới hạn cho các bài toán địa kỹ thuật được triển khai nghiên cứu và đạt được nhiều thành quả, đặc biệt trong suốt 2 thập kỷ vừa qua nhờ vào sự phát triển của lý thuyết tối ưu và hệ thống máy tính phân tích. Một số tác giả đạt nhiều thành quả quan trọng trong lĩnh vực địa kỹ thuật cần kể đến như S.Sloan và các đồng nghiệp ở Newcastle (1988,1995), H.Sloan (1994), Lymain và S.
Gắn liền với sự phát triển của kỹ thuật phân tích giới hạn là kỹ thuật xấp xỉ số cho trường ứng suất và biến dạng, và thuật toán giải quyết các bài toán tối ưu. Xét về mặt phương pháp số, nhiều phương thức số đã được nghiên cứu để xấp xỉ cho trường ứng suất và biến dạng như phần tử hữu hạn chuẩn, phương pháp không lưới, phương pháp phần tử biên. Cùng với sự phát triển phương thức số, thuật toán tối ưu cũng được phát triển, nhiều các thuật toán tối ưu tuyến tính hoặc phi tuyến để giải bài toán tối ưu. Thuật toán tối ưu hình nón bậc hai cũng được sử dụng để phân tích các bài toán phân tích giới hạn nền với cách xấp xỉ trường chuyển vị là phần tử hữu hạn chuẩn và có xét đến sự bất liên tục trên biên.1 Tình hình nghiên cứu trong nước đối với ngành địa kỹ thuật Phân tích giới hạn cho các bài toán địa kỹ thuật bằng phương pháp số và tối ưu hình nón chưa được triển khai nghiên cứu trong nước.
Hiện tại, nhóm nghiên cứu do TS. Lê Văn Cảnh với sự tài trợ của quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia Nafosted đang thực hiện các bài toán phân tích thích nghi và giới hạn cho kết cấu, nền móng công trình. Trong đó, tác giả luận văn này đang thực hiện phân tích giới hạn cho các bài toán địa kỹ thuật xây dựng. 3 Ý nghĩa khoa học của đề tài Thiết lập một phương thức mới phân tích giới hạn từ lời giải cận trên áp dụng cho các bài toán địa kỹ thuật xây dựng.
Phương pháp phần tử hữu hạn trơn dựa trên cạnh (ES-FEM) được dùng để xấp xỉ trường chuyển vị. Từ đó, bài toán phân tích giới hạn được đưa về bài toán tối ưu với ràng buộc dạng nón bậc hai. Thông qua 4 chương trình tối ưu (Mosek) được viết bởi các nhà toán học để tìm lời giải cho bài toán phân tích giới hạn. 4 Tính thực tiễn đề tài Phân tích giới hạn sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn trơn dựa trên cạnh (ES-FEM) và chương trình nón bậc hai (SOCP) có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn.
Tải trọng giới hạn cũng như cơ chế trượt tương ứng sẽ được xác định thông qua bài toán tối ưu. Như vậy, kỹ sư thiết kế có thể tiên đoán được tải phá hủy của cấu kiện, nền móng. Đối với những trường hợp đất nền phức tạp, gồm 2 hay nhiều lớp đất dưới móng. Việc áp dụng các công thức xác định sức chịu tải của các tác giả dựa trên cơ cấu trượt của nền đồng nhất sẽ không còn phù hợp.
Do vậy, thông qua bài toán phân tích giới hạn với việc thiết lập nhiều lớp đất, tải gây ra nền trượt sẽ được tiên đoán đáng tin cậy hơn. Phân tích ổn định mái dốc là vấn đề cũng được quan tâm nhiều trong thực tiễn. Bằng cách áp dụng lý thuyết phân tích giới hạn cơ chế trượt của mái dốc sẽ tìm được trực tiếp thông qua lời giải của bài toán tối ưu. Bài toán móng nông đặt trên mái dốc, với cơ chế phá hủy là sự kết hợp bởi hai nhân tố: cơ cấu sụp đổ của đất nền dưới móng và cơ cấu trượt của mái dốc.
Điều này trở nên khó khăn nếu phân tích bài toán này bằng các phương pháp truyền thống. Tuy nhiên, với lý thuyết phân tích giới hạn sức chịu tải nền cũng như cơ chế sụp đổ của đất nền dưới móng và cơ chế trượt của mái dốc sẽ được tìm nhanh chóng thông qua bài toán tối ưu. Việc khảo sát sự ảnh hưởng của chiều sâu chôn móng, vị trí đặt móng trên mái dốc, và góc nghiêng của mái dốc lên sức chịu tải của đất nền dưới móng đã được tiến hành, điều này có ý nghĩa quan trọng trong thiết kế thực tiễn. 5 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5.1 Mục tiêu Vận dụng lý thuyết phân tích giới hạn từ lời giải cận trên sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn trơn dựa trên cạnh (ES-FEM) và chương trình nón bậc hai (SOCP) để xác định cơ cấu trượt cũng như tải phá hủy của một số bài toán: (i) sức chịu tải của nền gồm một hay nhiều lớp, (ii) xác định mặt trượt và hệ số an toàn của 5 mái dốc, (iii) xác định sức chịu tải của nền dưới móng nông đặt trên mái dốc trong điều kiện đất không thoát nước.2 Nhiệm vụ của đề tài Nội dung của luận văn tập trung vào việc xây dựng một tiến trình mới cho phương thức giới hạn đi từ lời giải cận trên để giải quyết cho các bài toán địa kỹ thuật xây dựng.
Nhiệm vụ chủ yếu của đề tài bao gồm: - Rời rạc hóa trường biến dạng bằng phương pháp phần tử hữu hạn trơn dựa trên cạnh. - Thiết lập năng lượng tiêu tán dẻo cho phần tử dựa trên tiêu chuẩn bền Morh- Coulomb và luật chảy dẻo kết hợp. - Đưa bài toán phân tích giới hạn về bài toán tối ưu hóa có ràng buộc dạng hình nón bậc hai. - Vận dụng lý thuyết phân tích giới hạn từ lời giải cận trên xác định cơ cấu trượt cũng như tải phá hủy của một số bài toán: (i) sức chịu tải của nền gồm một hay nhiều lớp, (ii) xác định mặt trượt và hệ số an toàn của mái dốc, (iii) xác định sức chịu tải của nền dưới móng nông đặt trên mái dốc trong điều kiện đất không thoát nước.
- Kết luận chung về tính hội tụ và chính xác của tiến trình mới cho phương thức giới hạn đi từ lời giải cận trên. Ưu điểm của việc dùng phương pháp phần tử hữu hạn trơn dựa trên cạnh và chương trình tối ưu dạng nón bậc hai.