CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA CHỈ SỐ Z TRONG PHÁT HIỆN GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Gian lận Gian lận là một họat động được thực hiện trong môi trường kinh tế, xã hội và gây ra hậu quả xấu cho nền kinh tế, doanh nghiệp và các cá nhân. Có rất nhiều định nghĩa về gian lận, cụ thể như sau: - Theo Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ, gian lận là việc lạm dụng hoặc áp dụng sai một cách chủ tâm đối với tài sản hoặc nguồn lực của doanh nghiệp với mục đích tư lợi. - Cục điều tra liên bang Hoa kỳ (FBI) trình bày một định nghĩa rộng hơn nhưng hữu ích về gian lận. Cụ thể về tội phạm văn phòng có những đặc tính như lừa dối, hành động che giấu, hoặc lợi dụng sự tin tưởng.
Những hành động gian lận được thừa nhận bởi cá nhân và tổ chức chứa đựng yếu tố liên quan đến tiền, bất động sản, hoặc dịch vụ, để tránh trả tiền hoặc mất tiền, hoặc để bảo đảm thuận lợi cá nhân hoặc doanh nghiệp. - Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 240 – Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính, gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, bằng các hành vi gian dối để thu lợi một cách bất chính hoặc bất hợp pháp. Tóm lại, gian lận là hành vi tư lợi, lạm dụng hoặc áp dụng sai một cách cố ý, biển thủ tài sản hoặc nguồn lực của tổ chức gây thiệt hại cho tổ chức đó nói riêng và nền kinh tế nói chung. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Gian lận báo cáo tài chính Cũng như khái niệm về gian lận, gian lận báo cáo tài chính cũng có nhiều khái niệm khác nhau, cụ thể như sau: - Theo Hiệp hội các nhà điều tra gian lận của Hoa Kỳ, gian lận báo cáo tài chính là báo cáo sai lệch do cố ý hoặc bỏ sót những nhân tố quan trọng, hoặc dữ liệu kế toán sai lệch, và hậu quả gây ra cho người đọc có những quyết định hoặc đánh giá không chính xác khi xem xét các thông tin trên báo cáo tài chính.
- Theo Báo cáo của Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia về chống gian lận trên báo cáo tài chính của Hoa Kỳ (Treadway Commission), gian lận báo cáo tài chính là sự kiểm soát thiếu thận trọng do cố ý hay vô ý dẫn đến kết quả báo cáo tài chính sai lệch nghiêm trọng. Tóm lại, gian lận báo cáo tài chính cũng mang những đặc điểm của gian lận tuy nhiên phạm vi thực hiện của nó nhỏ hơn chỉ giới hạn trong việc làm sai lệch các thông tin trên báo cáo tài chính.2 Các nghiên cứu trước đây về gian lận và gian lận báo cáo tài chính 1.1 Về học thuật Tác giả sẽ tóm tắt các nghiên cứu điển hình về gian lận, gian lận báo cáo tài chính dưới góc độ học thuật về hai nội dung chủ yếu là phạm vi nghiên cứu và kết quả nghiên cứu. Các nghiên cứu điển hình bao gồm: 1. Sutherland (1883-1950) - Phạm vi khảo sát Hành vi gian lận được thực hiện bởi nhà quản lý đối với chủ sở hữu.
- Kết quả nghiên cứu Tội phạm học cũng cần phải được nghiên cứu bài bản, giống như toán học, lịch sử hay ngoại ngữ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Quá trình phạm tội thường thông qua một quá trình giao tiếp với xã hội, vì hành vi phạm tội không thể tiến hành nếu như không có sự tác động của yếu tố bên ngòai. Một tổ chức mà có các nhân viên không lương thiện sẽ ảnh hưởng ngay đến các nhân viên lương thiện.Cressey (1919-1987) - Phạm vi khảo sát Phân tích gian lận dưới góc độ tham ô và biển thủ, thông qua khảo sát 200 trường hợp tội phạm kinh tế. - Kết quả nghiên cứu Mô hình “Tam giác gian lận”, gồm ba nhân tố sau: Áp lực: có thể là những bế tắc trong cuộc sống cá nhân như khó khăn về tài chính, rạn nứt trong mối quan hệ giữa người chủ và người làm thuê… Qua khảo sát những hành vi gian lận, Donald R.Cressey đã tóm tắt về sáu trường hợp chính tạo nên áp lực như sau: o Loại 1: Khó khăn về tài chính o Loại 2: Hậu quả từ thất bại cá nhân o Loại 3: Khó khăn về kinh doanh o Loại 4: Bị cô lập o Loại 5: Muốn ngang bằng người khác o Loại 6: Mối quan hệ chủ - thợ Cơ hội: Khi đã bị áp lực, nếu có cơ hội, họ sẵn sàng thực hiện hành vi gian lận.
Có 2 yếu tố liên quan đến cơ hội là nắm bắt thông tin và kỹ năng thực hiện. o Nắm bắt thông tin: là khi nghe được, nhìn thấy được hành vi gian lận của một người khác hay nhận thấy ở vị trí của mình có thể thực hiện hành vi gian lận tương tự. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 o Kỹ năng thực hiện: là cách thức để thực hiện hành vi gian lận, kỹ năng này tùy thuộc vào vị trí của họ trong tổ chức. Thái độ, cá tính: Theo nghiên cứu của Donald R.Cressey, không phải tất cả mọi người khi gặp khó khăn và có cơ hội cũng đều thực hiện gian lận, vì nó còn phụ thuộc rất nhiều vào thái độ hay cá tính của từng cá nhân.
Có những người dù chịu áp lực và có cơ hội thực hiện nhưng vẫn không hề thực hiện hành vi gian lận, và ngược lại.Steve Albrecht (1980) - Phạm vi khảo sát Phân tích 212 trường hợp gian lận vào những năm 1980, dưới sự tài trợ của Hiệp hội các nhà sáng lập chuyên nghiên cứu về kiểm toán nội bộ. - Kết quả nghiên cứu Xây dựng 50 dấu hiệu để chỉ dẫn về gian lận tập trung vào 2 đối tượng là nhân viên và tổ chức. o Một số dấu hiệu đối với nhân viên: Sống dưới mức trung bình Nợ nần cao Quá mong muốn có thu nhập cao Có mối liên hệ thân thiết với khách hàng hay nhà cung cấp Cảm giác được trả lương không tương xứng với sự đóng góp Mối quan hệ chủ - thợ không tốt Có mong muốn chứng tỏ là họ có thể vượt qua được sự kiểm soát của tổ chức Có thói quen cờ bạc Chịu áp lực từ gia đình hay phụ thuộc gia đình quá mức TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Không được ghi nhận thành tích o Một số dấu hiệu liên quan đến tổ chức: Đặt quá nhiều lòng tin vào nhân viên chủ chốt Thiếu thủ tục phê chuẩn thích hợp Không yêu cầu công bố đầy đủ các khoản đầu tư và thu nhập cá nhân Không tách biệt chức năng bảo quản tài sản và xét duyệt Thiếu kiểm tra hay soát xét độc lập việc thực hiện Không theo dõi chi tiết các hoạt động Không tách biệt chức năng bảo quản tài sản với chức năng kế toán Không tách biệt một số chức năng về kế toán Thiếu chỉ dẫn rõ ràng về nhiệm vụ và quyền hạn Thiếu sự giám sát của kiểm toán nội bộ Mô hình bàn cân gian lận: gồm 3 nhân tố là hoàn cảnh tạo ra áp lực, cơ hội và tính trung thực của cá nhân. Khi hoàn cảnh tạo ra áp lực, cơ hội thực hiện gian lận cao cùng với tính liêm chính của cá nhân thấp, nguy cơ xảy ra gian lận là rất lớn.
Ngược lại, khi hoàn cảnh tạo ra áp lực, cơ hội thực hiện gian lận thấp cùng với tính liêm chính cao, nguy cơ xảy ra gian lận là rất thấp.Hollinger (1983) - Phạm vi khảo sát Nghiên cứu với cỡ mẫu lớn với hơn 10.000 nhân viên làm việc tại Hoa Kỳ. - Kết quả nghiên cứu Bốn vấn đề sau cần được các nhà quản lý tập trung để ngăn ngừa những hành vi ăn cắp trong tổ chức: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Quy định rõ ràng những hành vi không được chấp nhận trong tổ chức. Không ngừng phổ biến những thông tin hữu ích, những quy định của tổ chức cho toàn thể nhân viên. Thực hiện việc phê chuẩn trong thực tế.
Công khai các phê chuẩn.2 Nghiên cứu của các tổ chức nghề nghiệp 1.1 Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE) (1993-2012) - Phạm vi khảo sát Gửi bảng câu hỏi cho các đối tượng nhằm thu thập thông tin về các trường hợp gian lận mà họ từng chứng kiến từ năm 1993 đến năm 2012. - Kết quả nghiên cứu Số trường hợp gian lận liên quan đến tài sản > tham ô, tham nhũng > gian lận báo cáo tài chính. Mức độ thiệt hại do gian lận liên quan đến tài sản < tham ô, tham nhũng < gian lận báo cáo tài chính. Người thực hiện gian lận do nhân viên > nhà quản lý > chủ sở hữu, nhà quản lý cấp cao.
Mức độ tổn thất do nhân viên thực hiện gian lận < nhà quản lý < chủ sở hữu, nhà quản lý cấp cao. Gian lận ở doanh nghiệp có quy mô nhỏ là cao nhất do kiểm soát không chặt chẽ. Bình quân lỗ do gian lận gây ra trong nghiên cứu mới nhất của ACFE trên báo cáo năm 2012 là khoảng 140. Hơn 1/15 các trường hợp này gây ra lỗ ít nhất 1 triệu đôla Mỹ.
Báo cáo gian lận thường kéo dài bình quân khoảng 18 tháng trước khi bị phát hiện theo báo cáo mới nhất của ACFE năm 2012. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Phần lớn các ngành công nghiệp liên quan đến gian lận báo cáo tài chính là các ngành dịch vụ tài chính và ngân hàng, các cơ quan quản lý công cộng, và các doanh nghiệp sản xuất.2 COSO (2010) - Phạm vi khảo sát Phân tích 347 báo cáo tài chính gian lận của các công ty ở Mỹ trong suốt 10 năm từ năm 1998 đến 2007. - Kết quả nghiên cứu So với COSO 1999, số trường hợp gian lận ngày càng lớn hơn, liên quan đến các công ty lớn hơn (như Enron, WorldCom, …), liên quan đến CEO và CFO nhiều hơn, và liên quan đến khai khống doanh thu nhiều hơn. Cụ thể, như sau: Số tiền gian lận báo cáo tài chính gần 400 triệu đôla Mỹ cho một trường hợp, gấp 16 lần trường hợp gian lận trên báo cáo COSO 1999 chỉ có 25 triệu đôla Mỹ cho một trường hợp.