PHÂN TÍCH DÒNG TÂM TRẠNG CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ TRONG CHINH PHỤ NGÂM QUA BẢN DIỄN NÔM CỦA ĐOÀN THỊ ĐIỂM

Tìm hiểu dòng tâm trạng phức tạp của người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm qua bản diễn nôm đặc sắc của Đoàn Thị Điểm. Phân tích sâu sắc về nỗi nhớ, cô đơn.

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tiểu luận

2024

66
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN THỂ LOẠI VÀ TÁC PHẨM

1.1. Thể loại ngâm khúc

1.2. Đặc điểm của ngâm khúc trong nền văn học Việt Nam

1.3. Chinh phụ ngâm

1.3.1. Tác giả và dịch giả

1.3.2. Hoàn cảnh sáng tác

1.3.3. Những vấn đề nổi bật trong Chinh phụ ngâm

2. CHƯƠNG 2: DÒNG TÂM TRẠNG CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ TRONG CHINH PHỤ NGÂM

2.1. Những biểu hiện tâm trạng của người chinh phụ

2.1.1. Nỗi xót xa cho người chinh chiến

2.1.2. Nỗi nhớ nhung, trông ngóng

2.1.3. Nỗi cô đơn đến tuyệt vọng

2.1.4. Nỗi niềm thương tiếc

2.1.5. Nỗi mong ước, khẩn cầu hạnh phúc cá nhân

2.2. Dòng tâm trạng của người chinh phụ trong thời gian phi tuyến tính

2.2.1. Nỗi nhớ từ hiện tại hồi quy về quá khứ rồi phóng chiếu khát vọng trong tương lai

2.2.2. Nỗi ân hận ở hiện tại sau khi quy hồi về quá khứ và phóng chiếu khát vọng trong tương lai

2.2.3. Nỗi cô đơn ở hiện tại khi phóng chiếu khát vọng trong tương lai để tự vấn mình

3. CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN TÂM TRẠNG NGƯỜI CHINH PHỤ TRONG CHINH PHỤ NGÂM

3.1. Điển tích và điển cố

3.2. Biện pháp tu từ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Chinh Phụ Ngâm Bản Diễn Nôm Đoàn Thị Điểm 55 ký tự

Chinh Phụ Ngâm, một tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, phản ánh sâu sắc nỗi lòng người chinh phụ trong bối cảnh xã hội loạn lạc. Bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm đã khắc họa chân thực tâm trạng của người vợ chờ chồng nơi chinh chiến, nỗi cô đơn, sự chờ đợinỗi nhớ nhung da diết. Tác phẩm không chỉ là tiếng than về bi kịch chiến tranh mà còn là tiếng nói giá trị nhân đạo sâu sắc, thể hiện khát vọng về một cuộc sống hòa bình và hạnh phúc gia đình. Bối cảnh lịch sử với những cuộc chiến tranh liên miên đã gieo rắc nỗi buồn chiến tranhsự ly biệt cho bao gia đình, khiến cho Chinh Phụ Ngâm trở thành tiếng nói chung của thời đại. "Chinh phụ ngâm của tác giả Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, tác phẩm nhận được đón nhận rộng rãi của người dân cũng nhân tầng lớp nho sĩ bởi nó gợi được sự đồng cảm trong tình cảnh xã hội bấy giờ."

1.1. Thể Loại Ngâm Khúc Đặc Trưng Và Vị Trí Trong Văn Học 57 ký tự

Ngâm khúc là thể thơ trữ tình dài hơi, thường được làm theo thể thơ song thất lục bát, để ngâm nga, than vãn. Nội dung chính là bộc lộ những tâm trạng buồn phiền, đau xót triền miên. Khác với truyện thơ, ngâm khúc tập trung vào tâm lý nhân vật, cảm xúc, lời ai oánsự tiếc thương. Nó không chỉ thể hiện nỗi đau mà còn là sự tự bộc lộ ý thức về quyền sống, quyền hạnh phúc cá nhân. "Như vậy, có thể hiểu ngâm khúc là thể loại trữ tình thuần túy Việt Nam – một thể loại văn học dân tộc, là sản phẩm kết hợp nhuần nhuyễn giữa thể thơ song thất lục bát của dân tộc với phương thức trữ tình dài hơi, gắn với số phận thăng trầm của con người."

1.2. Đặng Trần Côn Và Đoàn Thị Điểm Tác Giả Dịch Giả 59 ký tự

Đặng Trần Côn, tác giả của Chinh Phụ Ngâm chữ Hán, sống trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Đoàn Thị Điểm, người diễn Nôm tác phẩm, đã thổi hồn vào từng câu chữ bằng tâm trạng người chinh phụ. Bản dịch của bà không chỉ trung thành với nguyên tác mà còn mang đậm dấu ấn cá nhân, thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với nhân vật. Sự kết hợp giữa tài năng và cảm xúc đã tạo nên một tác phẩm kinh điển trong văn học Việt Nam. "Dịch giả là bà Đoàn Thị Điểm (1705-1748), hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, người làng Hiếu Phạm, huyện Văn Giang (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) và là em gái ông Giám sinh Đoàn Luân."

1.3 Bối Cảnh Sáng Tác Chinh Phụ Ngâm Phản Ánh Xã Hội 56 ký tự

Chinh Phụ Ngâm ra đời trong bối cảnh xã hội phong kiến đầy biến động, với những cuộc chiến tranh liên miên và sự bất công. Tác phẩm phản ánh nỗi buồn chiến tranh, sự ly biệtthân phận người phụ nữ trong xã hội cũ. Đây là tiếng nói giá trị hiện thực mạnh mẽ, tố cáo bi kịch chiến tranh và khẳng định khát vọng hạnh phúc của con người. "Văn học Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX phát triển trong hoàn cảnh xã hội có nhiều biến động. Chế độ phong kiến đi từ khủng hoảng đến suy thoái, đất nước rơi vào tình trạng loạn lạc."

II. Cách Phân Tích Tâm Trạng Nỗi Xót Xa Cho Người Chinh Chiến 59 ký tự

Một trong những biểu hiện đầu tiên của tâm trạng người chinh phụnỗi xót xa cho người chinh chiến. Dù thấu hiểu chí khí của chồng, nàng vẫn không khỏi lo lắng trước những hiểm nguy nơi chiến trường. Sự lo lắng này không chỉ xuất phát từ tình yêu mà còn từ sự cảm thông sâu sắc với những khó khăn mà người lính phải trải qua. Nỗi cô đơnnỗi nhớ nhung càng làm tăng thêm sự xót xa trong lòng người chinh phụ. "Tuy thấu hiểu được chí nam nhi của chồng mình và ủng hộ hoài bão đó song người chinh phu vẫn không hỏi lo lắng cho người chồng của mình khi hiểu rằng chiến trường là nơi khốc liệt, người tham gia chiến trận được mấy ai trở về."

2.1. Sự Cảm Thông Sâu Sắc Hiểu Được Nỗi Khổ Của Chồng 55 ký tự

Tâm trạng người chinh phụ không chỉ đơn thuần là lo lắng cho chồng mà còn là sự cảm thông sâu sắc với những nỗi khổ mà người lính phải gánh chịu. Nàng hiểu rõ những vất vả, hiểm nguy nơi chiến trường, sự hi sinhlòng son sắt của người lính. Sự thấu hiểu này càng làm tăng thêm nỗi xót xanỗi nhớ nhung trong lòng nàng.

2.2. Nỗi Lo Lắng Triền Miên Sợ Hãi Bi Kịch Chiến Tranh 58 ký tự

Chiến tranh luôn mang đến những bi kịch, và người chinh phụ luôn sống trong nỗi lo lắng triền miên về vận mệnh con người. Nàng sợ hãi những mất mát, sự ly biệtsự bế tắc mà chiến tranh gây ra. Nỗi buồn chiến tranh luôn ám ảnh nàng, khiến cho tâm trạng trở nên u uất và nặng nề. "Nàng sợ hãi những mất mát, sự ly biệtsự bế tắc mà chiến tranh gây ra. Nỗi buồn chiến tranh luôn ám ảnh nàng, khiến cho tâm trạng trở nên u uất và nặng nề."

III. Phương Pháp Phân Tích Nỗi Nhớ Nhung Trông Ngóng Triền Miên 59 ký tự

Nỗi nhớ nhungsự trông ngóng là một trong những biểu hiện rõ nét nhất của tâm trạng người chinh phụ. Sự chờ đợi mỏi mòn, da diết đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của nàng. Những hình ảnh thời gian và không gian nghệ thuật trong Chinh Phụ Ngâm đã khắc họa sâu sắc nỗi cô đơnnỗi nhớ nhung của người chinh phụ. Nàng luôn hướng về phương xa, nơi người chồng đang chiến đấu, với hy vọng và sự mong mỏi hòa bình. "Với những suy nghĩ cũng cảm xúc phức tạp, việc phân tích dòng tâm trong của người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm là một vấn đề cần được được quan tâm để góp phần vào các công việc việc giảng dạy cũng như nghiên cứu."

3.1. Hình Ảnh Thiên Nhiên Gợi Nỗi Cô Đơn Nỗi Nhớ Da Diết 56 ký tự

Hình ảnh thơ trong Chinh Phụ Ngâm thường được sử dụng để gợi tả nỗi cô đơnnỗi nhớ nhung của người chinh phụ. Cảnh vật xung quanh, từ trăng, gió đến hoa, lá, đều mang một màu sắc buồn bã và cô quạnh. Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, biểu cảm đã giúp người đọc cảm nhận sâu sắc tâm trạng của nhân vật. "Trong thơ trữ tình có thể kể sự việc nhưng kể việc cũng chỉ để diễn tả cảm xúc, nội tâm nhân vật."

3.2. Hành Động Trông Ngóng Thể Hiện Sự Chờ Đợi Mỏi Mòn 55 ký tự

Những hành động trông ngóng, chờ đợi của người chinh phụ là minh chứng rõ ràng nhất cho tình yêulòng son sắt của nàng. Nàng ngóng trông tin chồng, chờ đợi ngày đoàn tụ, nhưng sự chờ đợi càng kéo dài, nỗi cô đơn càng thêm sâu sắc. Nghệ thuật miêu tả tâm lý đã giúp người đọc thấu hiểu tâm trạng của nhân vật một cách chân thực nhất.

IV. Hướng Dẫn Nghiên Cứu Nỗi Cô Đơn Tuyệt Vọng Của Người Chinh Phụ 60 ký tự

Nỗi cô đơnnỗi tuyệt vọng là những cung bậc tâm trạng sâu sắc nhất của người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm. Sự ly biệt kéo dài, sự bế tắc trong cuộc sống đã đẩy nàng đến bờ vực của nỗi niềm thương tiếc. Tuy nhiên, dù trong hoàn cảnh khó khăn nhất, nàng vẫn giữ vững vẻ đẹp tâm hồn, sự thủy chungkhát vọng hạnh phúc. "Tuy nhiên chỉ ngay sau khi tiễn đưa, nàng lập tức nhận ra nỗi cô đơn, lẻ loi, lo lắng từ nơi hậu phương cho chồng và hiểu rằng cảnh hạnh phúc ngày càng xa vời."

4.1. Sự Tự Vấn Lòng Mình Tìm Kiếm Ý Nghĩa Cuộc Sống 55 ký tự

Trong nỗi cô đơn, người chinh phụ thường tự vấn lòng mình về ý nghĩa của cuộc sống, về vận mệnh con người. Nàng tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi về chiến tranh, sự bất côngkhát vọng hạnh phúc. Những suy tư này giúp người đọc hiểu rõ hơn về tâm lý nhân vậtgiá trị nhân đạo của tác phẩm.

4.2. Sự Mong Ước Hạnh Phúc Niềm Tin Vào Tương Lai Tốt Đẹp 60 ký tự

Dù phải đối mặt với nỗi tuyệt vọng, người chinh phụ vẫn luôn ấp ủ sự mong mỏi hòa bình, khát vọng hạnh phúc. Nàng tin rằng một ngày nào đó chiến tranh sẽ kết thúc, gia đình sẽ đoàn tụ và cuộc sống sẽ trở lại bình yên. Nỗi mong ước này là nguồn động lực giúp nàng vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. "Đồng thời cũng đề cao quyền muốn sống và quyền sống hạnh phúc của con người, sự khát khao tình yêu đôi lứa."

V. Bí Quyết Thấu Hiểu Nỗi Niềm Thương Tiếc Quá Khứ Hạnh Phúc 60 ký tự

Nỗi niềm thương tiếc quá khứ hạnh phúc là một phần quan trọng trong dòng tâm trạng của người chinh phụ. Những kỷ niệm về tình yêu, tình cảm vợ chồng luôn sống động trong tâm trí nàng, làm tăng thêm nỗi đau chia ly. Sự hi sinhlòng son sắt của nàng càng làm cho quá khứ trở nên đẹp đẽ và đáng trân trọng hơn. Bản dịch của Đoàn Thị Điểm đã diễn tả sâu sắc lời ai oánsự tiếc thương này. "Với những suy nghĩ cũng cảm xúc phức tạp, việc phân tích dòng tâm trong của người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm là một vấn đề cần được được quan tâm để góp phần vào các công việc việc giảng dạy cũng như nghiên cứu."

5.1. Ký Ức Tình Yêu Nguồn An Ủi Giữa Bi Kịch Chiến Tranh 59 ký tự

Những ký ức về tình yêu là nguồn an ủi lớn lao cho người chinh phụ trong bi kịch chiến tranh. Nàng nhớ lại những khoảnh khắc hạnh phúc bên chồng, những lời hứa hẹn và sự hi sinh cho tình cảm vợ chồng. Những ký ức này giúp nàng giữ vững niềm tinlòng son sắt. "Trong thơ trữ tình có thể kể sự việc nhưng kể việc cũng chỉ để diễn tả cảm xúc, nội tâm nhân vật."

5.2. Lòng Biết Ơn Trân Trọng Những Giá Trị Vĩnh Cửu 58 ký tự

Nỗi niềm thương tiếc quá khứ cũng thể hiện lòng biết ơn của người chinh phụ đối với những giá trị vĩnh cửu của tình yêutình cảm gia đình. Nàng trân trọng những gì đã qua và luôn hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn. Giá trị nội dunggiá trị nghệ thuật của Chinh Phụ Ngâm đã giúp tác phẩm sống mãi trong lòng người đọc.

VI. Kết Luận Tương Lai Phân Tích Tâm Trạng Cần Thiết 58 ký tự

Phân tích dòng tâm trạng người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm bản diễn Nôm Đoàn Thị Điểm là một công việc cần thiết để hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm, về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến và về giá trị nhân đạo của văn học. Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực văn học trung đại mà còn góp phần vào việc giáo dục cảm xúctâm lý cho thế hệ trẻ. Tác phẩm tiếp tục là nguồn cảm hứng cho các nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học. "Với những suy nghĩ cũng cảm xúc phức tạp, việc phân tích dòng tâm trong của người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm là một vấn đề cần được được quan tâm để góp phần vào các công việc việc giảng dạy cũng như nghiên cứu."

6.1. Đề Xuất Nghiên Cứu So Sánh Các Bản Diễn Nôm Khác 60 ký tự

Một hướng nghiên cứu tiềm năng là so sánh bản diễn nôm của Đoàn Thị Điểm với các bản dịch khác, để đánh giá giá trị nghệ thuật và sự đóng góp của bà vào văn học Việt Nam. Nghiên cứu này có thể tập trung vào ngôn ngữ thơ, biện pháp tu từ và cách diễn tả tâm lý nhân vật trong từng bản dịch. "Đề xuất nghiên cứu cần làm rõ hơn về sự liên kết của các bản dịch cũng như mối quan hệ chặt chẽ của các tác phẩm liên quan"

6.2. Ứng Dụng Giảng Dạy Phát Huy Giá Trị Nhân Văn 57 ký tự

Kết quả phân tích có thể được ứng dụng trong giảng dạy văn học trung đại, giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ hơn về tâm trạng người chinh phụ, về bi kịch chiến tranh và về khát vọng hạnh phúc của con người. Việc phát huy giá trị nhân văn của tác phẩm sẽ góp phần vào việc xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. "Đề xuất nghiên cứu cần làm rõ hơn về sự liên kết của các bản dịch cũng như mối quan hệ chặt chẽ của các tác phẩm liên quan"

25/04/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN THỂ LOẠI VÀ TÁC PHẨM 1.1 Thể loại ngâm khúc 1.1 Khái niệm Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, và Nguyễn Khắc Phi cho rằng: “Ngâm khúc là thể thơ trữ tình dài hơi, thường được làm theo thể thơ song thất lục bát để ngâm nga, than vãn nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền đau xót triền miên day dứt”. Mặt khác, Trần Đình Sử lại cho rằng: “Ngâm khúc là một thể loại văn học trung đại Việt Nam. Tinh thần bi kịch thể hiện ở chỗ tìm lại giá trị nhân sinh mà không được, không cam chịu mất mát giá trị mà đành bất lực và do bất lực mà lòng bất lực càng mạnh thêm, day dứt hơn”. Như vậy, có thể hiểu ngâm khúc là thể loại trữ tình thuần túy Việt Nam – một thể loại văn học dân tộc, là sản phẩm kết hợp nhuần nhuyễn giữa thể thơ song thất lục bát của dân tộc với phương thức trữ tình dài hơi, gắn với số phận thăng trầm của con người.

Ngoài ra, ngâm khúc còn có những tên gọi khác như khúc, vãn, thán.2 Đặc điểm của ngâm khúc trong nền văn học Việt Nam Ngâm khúc là thế giới tâm trạng của nhân vật trữ tình. Nội dung bên trong ngâm khúc là những câu thơ than vãn, bộc lộ tâm trạng đau buồn, sầu hận triền miên trong cô đơn của con người trước bi kịch cuộc đời. Ngâm khúc thể hiện cảm hứng trữ tình bi thương, qua tâm trạng nhân vật trữ tình, với những trạng thái tình cảm khác nhau như đau xót, sầu tủi, tiếc hận,. gắn với những nguyên nhân đi kèm với những tâm trạng ấy như tuổi trẻ tàn phai, tình yêu chia lìa, hạnh phúc tan vỡ, người thân qua đời, nổi niểm oan khuất,.

Các nhân vật trữ tình bộc lộ tâm trạng qua sự hồi tưởng, bằng hình thức kể, thuật, tả,.cho nên nỗi đau buồn, tiếc nuối cứ nối tiếp, triển miên, tạo thành dòng tình cảm bi kịch. Không chỉ thể hiện tâm trạng, ngâm khúc còn là sự tự bộc lộ ý thức về quyền sống. Khác với thể loại truyện thơ cũng là sự kết hợp giữa trữ tình với tự sự và truyện thơ có ưu thế rất giỏi vừa kết hợp kể chuyện vừa bộc lộ nội tâm nhân vật thì nội tâm trong các thể loại khác với nội tâm trong ngâm khúc có sự khác biệt hơn cả vì nó còn thể hiện sự tự ý thức về con người cá nhân về cuộc sống thực tại. Tức là nhân vật trong trữ tình bộc lộ tâm trạng, tình cảm nhưng nhân vật trong các khúc ngâm ngoài thể hiện tâm trạng, họ còn ý thức về giá trị, nhân phẩm và ý thức cuộc sống thực tại (con người cá nhân).

Bởi ngâm khúc ra đời trong bối cảnh lịch sử có nhiều bất ổn, chính trị khủng hoảng, kinh tế suy thoái, cuộc sống con người có nhiều khó khăn của tình hình xã hội Việt Nam trong khoảng thế kỉ XVII và thế kỉ XVIII. Bối 6 cảnh xã hội ấy là nguyên nhân tạo nên những nhận thức về nỗi đau, nỗi cô đơn của của mỗi kiếp người trong xã hội và từ đó ngâm khúc xuất hiện như một công cụ đắc lực để con người cá nhân có nhu cầu giãi bày tâm sự, kể nỗi lòng. Ngoài ra đây là còn là giai đoạn lịch sử chứng kiến sự xuất hiện của các tầng lớp thị dân bên cạnh các giai cấp thống trị phong kiến vương quyền. Các tầng lớp này đặt nền móng cho sự phát triển của các nhu cầu cá nhân, ý thức về đời sống, quyền sống, quyền hạnh phúc phát triển mạnh mẽ và nó đã có những tác động đến đời sống tinh thần thời đại về sau.

Con người nhận ra sự đối lập giữa hiện thực và khát vọng sống, khát vọng và hạnh phúc của họ. Sự thất vọng, bi quan bao trùm và ngâm khúc đã khai thác triệt để tâm trạng này. Nhân vật trữ tình trong các khúc ngâm là các nhân vật một mình bộc bạch, ý thức cao về giá trị, nhân phẩm, ý thức về nỗi đau của bản thân và đòi hỏi chính đáng những gì bản thân đáng được nhận. Những khúc ngâm với bản chất là giải bày và bộc lộ vậy cho nên nội dung của khúc ngâm thường được xây dựng trên cơ sở những hình tượng nhân vật độc thoại.

Thể loại ngâm khúc thường được viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, thường sử dụng nhiều tiểu đối và những từ Hán Việt cho câu thơ trở nên tha thiết trang trọng hơn. Về quy luật phối hợp bằng trắc thì đối với thơ cổ Trung Quốc đa phần là nhịp 4 và 3 còn thơ song thất lục bát của Việt Nam sẽ ngắt nhịp 3 và 4. Ngoài ra, khi nói về thể thơ song thất lục bát thì phải nghiên cứu về kết cấu gieo vần của thể thơ này. Thơ song thất lục bát của Việt Nam sẽ gieo vần lưng (yêu vận).

Và nhờ vậy mà vần lưng được xem là một hiện tượng đặc biệt của vần luật Việt Nam. Điều đó đã làm giàu thêm nhạc điệu của tiếng Việt và câu thơ Việt Nam còn thơ Trung Quốc chuộng gieo vần chân (cước vận). Cụ thể song thất lục bát gồm có 2 câu 7 chữ và 1 câu 6 chữ, 1 câu 8 chữ. Cụ thể quy luật gieo vần của thể loại này sẽ là chữ cuối câu bảy ở trên vần với chữ thứ 5 của câu bảy ở bên dưới và chữ cuối câu bảy thứ hai này sẽ vần với chữ cuối câu trong câu lục sau cùng thì tiếng cuối của câu lục sẽ vần với chữ thứ 6 câu bát.

Và chữ cuối câu bắt vần với chữ thứ 5 (đôi khi chữ thứ 3) của câu thất tiếp theo. Cách gieo vần như vậy khiến cho thể thơ song thất lục bát có sự chắp dính của vần ở tất cả các câu tạo thành một thể khiến cho thể thơ này có tính chu kỳ lặp lại. Sự chắp dính và lặp lại kéo dài sẽ khiến tình cảm của nhân vật kéo dài triền miên không dứt và đó chính là điểm đặc biệt trong tâm trạng của các nhân vật trong khúc ngâm. Người chinh phụ ngâm trong Chinh phụ ngâm nổi bật lên chính là nhờ các nét tâm trạng buồn sầu và tuyệt vọng đan xen với hy vọng cứ lặp đi lặp lại ám ảnh người đọc.

7 Về nhân vật trữ tình trong các khúc ngâm thì đó là kiểu nhân vật một mình bộc bạch và có ý thức cao về giá trị, nhân phẩm, đòi hỏi chính đáng những gì bản thân đáng được nhận. Từ đó, họ thoát khỏi những gò bó kiềm hãm trong tư tưởng của xã hội phong kiến. Khao khát tự nhiên chính đáng không thành hiện thực. Trong Chinh phụ ngâm là nổi bật lên hình ảnh người phụ nữ tự tưởng tượng đối thoại, hồi tường về quá khứ sau đó mơ tưởng về tương lai.2 Chinh phụ ngâm 1.1 Tác giả và dịch giả Chinh Phụ ngâm nguyên văn chữ Hán do Đặng Trần Côn sáng tác.

Sau đó bà Đoàn Thị Điểm đem diễn Nôm theo điệu song thất lục bát. Tác giả là Đặng Trần Côn nguyên là con cháu họ Trần, sinh cùng thời với bà Đoàn Thị Điểm. Người làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Ông sinh đời Lê Dụ Tông, trong buổi Trịnh Côn xưng chúa, cầm quyền.

Vào đầu niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786) đời Hậu Lê. Khi còn trẻ đã nổi tiếng là ham học và học giỏi, được liệt vào hàng “Thanh Trì Tứ Hổ” thời ấy gồm. Ông thi Hương đỗ Giải nguyên nhưng vào đến thi Hội thì hỏng. Từ đó, ông không chịu ràng buộc vào thi cử nữa mà nhậm chức Huấn Đạo ở một huyện, sau đó được bộ làm Tri huyện Thanh Oai, trấn giữ Sơn Tây đầu thời Cảnh Hưng (1740-1786).

Mãi cho đến cuối đời ông chỉ làm đến chức Ngự sử đài Chiếu khám là một chức quan nhỏ (hàm Tòng Bát phẩm) rồi nghỉ hưu và trở thành thầy đồ dạy học. Chinh phụ ngâm là tác phẩm thơ chữ Hán xưa ra đời trong cảm hứng của Đặng Trần Côn trước tình hình xã hội loạn lạc bởi binh biến. Đây là tác phẩm thơ được sáng tác theo thể trường đoản cú (các câu thơ dài ngắn không đều nhau), thuộc loại thơ trữ tình. Nếu thể loại tự sự là kể lại, miêu cả sự kiện diễn ra bên ngoài một cách khách quan thì thơ trữ tình là sự miêu tả thế giới nội tâm bằng các diễn biến bên trong tâm hồn.

Trong thơ trữ tình có thể kể sự việc nhưng kể việc cũng chỉ để diễn tả cảm xúc, nội tâm nhân vật. Dịch giả là bà Đoàn Thị Điểm (1705-1748), hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, người làng Hiếu Phạm, huyện Văn Giang (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) và là em gái ông Giám sinh Đoàn Luân. Bà nổi tiếng là người thông mông và đẹp người đẹp nết, có tài văn thơ và giỏi việc nữ công. Năm lên sáu tuổi đã làu thông Tứ Thư Ngũ Kinh.

Bà có soạn tập Tục Truyền Kỳ và diễn Nôm bài Chinh Phụ ngâm này. Mãi đến năm bà 37 tuổi (1942), bà nhận lời lấy Nguyễn Kiều, một tiến sĩ nổi tiếng hay chữ đã góa vợ. Nhưng sau khi cưới xong thì Nguyễn Kiều phải đi sứ sang Trung Quốc trong 3 năm, bà Điểm ở nhà thay chồng nuôi con, trông ngóng mòn đêm đợi chồng trở về. Có lẽ trong thời gian này bà đã dịch ra quốc âm tập thơ “Chinh phụ ngâm”.

8 Bản diễn nôm hiện hành gồm 408 câu thơ và một số văn bản dịch khác thì có 412 câu. Các dịch giả như Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khả đang được nghiên cứu rằng ai mới là người dịch Chinh Phụ ngâm. Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Vũ Hoạt thì bà Đoàn Thị Điểm là người đã dịch bản Hán văn của Chinh Phụ ngâm sáng bản diễn Nôm với hình thức thể thơ của dân tộc là song thất lục bát vì xuất phát từ hoàn cảnh tương đồng của bà với người chinh phụ trong tác phẩm. Hoàn cảnh và tâm sự của Đoàn Thị Điểm có phần tương tự như hoàn cảnh và tâm sự của người chinh phụ trong khúc ngâm của Đặng Trần Côn.

Như vậy, tài năng kiệt xuất kết hợp với tâm trạng đồng cảm sâu sắc, Hồng Hà Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã chuyển ngữ tác phẩm chữ Hán của Đặng Trần Côn ra chữ Nôm bằng thể thơ song thất lục bát vô cùng uyển chuyển, điều này cho thấy một tài năng nghệ sĩ rất tài hoa ở người phụ nữ xưa. Bởi nó được chuyển ngữ qua những cảm xúc được rút ra từ gan ruột, nước mắt xót đau dầm dề của chính người chuyển ngữ cho nên thật dễ hiểu khi sức lan tỏa của nó là rất lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ