CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN THỂ LOẠI VÀ TÁC PHẨM 1.1 Thể loại ngâm khúc 1.1 Khái niệm Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, và Nguyễn Khắc Phi cho rằng: “Ngâm khúc là thể thơ trữ tình dài hơi, thường được làm theo thể thơ song thất lục bát để ngâm nga, than vãn nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền đau xót triền miên day dứt”. Mặt khác, Trần Đình Sử lại cho rằng: “Ngâm khúc là một thể loại văn học trung đại Việt Nam. Tinh thần bi kịch thể hiện ở chỗ tìm lại giá trị nhân sinh mà không được, không cam chịu mất mát giá trị mà đành bất lực và do bất lực mà lòng bất lực càng mạnh thêm, day dứt hơn”. Như vậy, có thể hiểu ngâm khúc là thể loại trữ tình thuần túy Việt Nam – một thể loại văn học dân tộc, là sản phẩm kết hợp nhuần nhuyễn giữa thể thơ song thất lục bát của dân tộc với phương thức trữ tình dài hơi, gắn với số phận thăng trầm của con người.
Ngoài ra, ngâm khúc còn có những tên gọi khác như khúc, vãn, thán.2 Đặc điểm của ngâm khúc trong nền văn học Việt Nam Ngâm khúc là thế giới tâm trạng của nhân vật trữ tình. Nội dung bên trong ngâm khúc là những câu thơ than vãn, bộc lộ tâm trạng đau buồn, sầu hận triền miên trong cô đơn của con người trước bi kịch cuộc đời. Ngâm khúc thể hiện cảm hứng trữ tình bi thương, qua tâm trạng nhân vật trữ tình, với những trạng thái tình cảm khác nhau như đau xót, sầu tủi, tiếc hận,. gắn với những nguyên nhân đi kèm với những tâm trạng ấy như tuổi trẻ tàn phai, tình yêu chia lìa, hạnh phúc tan vỡ, người thân qua đời, nổi niểm oan khuất,.
Các nhân vật trữ tình bộc lộ tâm trạng qua sự hồi tưởng, bằng hình thức kể, thuật, tả,.cho nên nỗi đau buồn, tiếc nuối cứ nối tiếp, triển miên, tạo thành dòng tình cảm bi kịch. Không chỉ thể hiện tâm trạng, ngâm khúc còn là sự tự bộc lộ ý thức về quyền sống. Khác với thể loại truyện thơ cũng là sự kết hợp giữa trữ tình với tự sự và truyện thơ có ưu thế rất giỏi vừa kết hợp kể chuyện vừa bộc lộ nội tâm nhân vật thì nội tâm trong các thể loại khác với nội tâm trong ngâm khúc có sự khác biệt hơn cả vì nó còn thể hiện sự tự ý thức về con người cá nhân về cuộc sống thực tại. Tức là nhân vật trong trữ tình bộc lộ tâm trạng, tình cảm nhưng nhân vật trong các khúc ngâm ngoài thể hiện tâm trạng, họ còn ý thức về giá trị, nhân phẩm và ý thức cuộc sống thực tại (con người cá nhân).
Bởi ngâm khúc ra đời trong bối cảnh lịch sử có nhiều bất ổn, chính trị khủng hoảng, kinh tế suy thoái, cuộc sống con người có nhiều khó khăn của tình hình xã hội Việt Nam trong khoảng thế kỉ XVII và thế kỉ XVIII. Bối 6 cảnh xã hội ấy là nguyên nhân tạo nên những nhận thức về nỗi đau, nỗi cô đơn của của mỗi kiếp người trong xã hội và từ đó ngâm khúc xuất hiện như một công cụ đắc lực để con người cá nhân có nhu cầu giãi bày tâm sự, kể nỗi lòng. Ngoài ra đây là còn là giai đoạn lịch sử chứng kiến sự xuất hiện của các tầng lớp thị dân bên cạnh các giai cấp thống trị phong kiến vương quyền. Các tầng lớp này đặt nền móng cho sự phát triển của các nhu cầu cá nhân, ý thức về đời sống, quyền sống, quyền hạnh phúc phát triển mạnh mẽ và nó đã có những tác động đến đời sống tinh thần thời đại về sau.
Con người nhận ra sự đối lập giữa hiện thực và khát vọng sống, khát vọng và hạnh phúc của họ. Sự thất vọng, bi quan bao trùm và ngâm khúc đã khai thác triệt để tâm trạng này. Nhân vật trữ tình trong các khúc ngâm là các nhân vật một mình bộc bạch, ý thức cao về giá trị, nhân phẩm, ý thức về nỗi đau của bản thân và đòi hỏi chính đáng những gì bản thân đáng được nhận. Những khúc ngâm với bản chất là giải bày và bộc lộ vậy cho nên nội dung của khúc ngâm thường được xây dựng trên cơ sở những hình tượng nhân vật độc thoại.
Thể loại ngâm khúc thường được viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, thường sử dụng nhiều tiểu đối và những từ Hán Việt cho câu thơ trở nên tha thiết trang trọng hơn. Về quy luật phối hợp bằng trắc thì đối với thơ cổ Trung Quốc đa phần là nhịp 4 và 3 còn thơ song thất lục bát của Việt Nam sẽ ngắt nhịp 3 và 4. Ngoài ra, khi nói về thể thơ song thất lục bát thì phải nghiên cứu về kết cấu gieo vần của thể thơ này. Thơ song thất lục bát của Việt Nam sẽ gieo vần lưng (yêu vận).
Và nhờ vậy mà vần lưng được xem là một hiện tượng đặc biệt của vần luật Việt Nam. Điều đó đã làm giàu thêm nhạc điệu của tiếng Việt và câu thơ Việt Nam còn thơ Trung Quốc chuộng gieo vần chân (cước vận). Cụ thể song thất lục bát gồm có 2 câu 7 chữ và 1 câu 6 chữ, 1 câu 8 chữ. Cụ thể quy luật gieo vần của thể loại này sẽ là chữ cuối câu bảy ở trên vần với chữ thứ 5 của câu bảy ở bên dưới và chữ cuối câu bảy thứ hai này sẽ vần với chữ cuối câu trong câu lục sau cùng thì tiếng cuối của câu lục sẽ vần với chữ thứ 6 câu bát.
Và chữ cuối câu bắt vần với chữ thứ 5 (đôi khi chữ thứ 3) của câu thất tiếp theo. Cách gieo vần như vậy khiến cho thể thơ song thất lục bát có sự chắp dính của vần ở tất cả các câu tạo thành một thể khiến cho thể thơ này có tính chu kỳ lặp lại. Sự chắp dính và lặp lại kéo dài sẽ khiến tình cảm của nhân vật kéo dài triền miên không dứt và đó chính là điểm đặc biệt trong tâm trạng của các nhân vật trong khúc ngâm. Người chinh phụ ngâm trong Chinh phụ ngâm nổi bật lên chính là nhờ các nét tâm trạng buồn sầu và tuyệt vọng đan xen với hy vọng cứ lặp đi lặp lại ám ảnh người đọc.
7 Về nhân vật trữ tình trong các khúc ngâm thì đó là kiểu nhân vật một mình bộc bạch và có ý thức cao về giá trị, nhân phẩm, đòi hỏi chính đáng những gì bản thân đáng được nhận. Từ đó, họ thoát khỏi những gò bó kiềm hãm trong tư tưởng của xã hội phong kiến. Khao khát tự nhiên chính đáng không thành hiện thực. Trong Chinh phụ ngâm là nổi bật lên hình ảnh người phụ nữ tự tưởng tượng đối thoại, hồi tường về quá khứ sau đó mơ tưởng về tương lai.2 Chinh phụ ngâm 1.1 Tác giả và dịch giả Chinh Phụ ngâm nguyên văn chữ Hán do Đặng Trần Côn sáng tác.
Sau đó bà Đoàn Thị Điểm đem diễn Nôm theo điệu song thất lục bát. Tác giả là Đặng Trần Côn nguyên là con cháu họ Trần, sinh cùng thời với bà Đoàn Thị Điểm. Người làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Ông sinh đời Lê Dụ Tông, trong buổi Trịnh Côn xưng chúa, cầm quyền.
Vào đầu niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786) đời Hậu Lê. Khi còn trẻ đã nổi tiếng là ham học và học giỏi, được liệt vào hàng “Thanh Trì Tứ Hổ” thời ấy gồm. Ông thi Hương đỗ Giải nguyên nhưng vào đến thi Hội thì hỏng. Từ đó, ông không chịu ràng buộc vào thi cử nữa mà nhậm chức Huấn Đạo ở một huyện, sau đó được bộ làm Tri huyện Thanh Oai, trấn giữ Sơn Tây đầu thời Cảnh Hưng (1740-1786).
Mãi cho đến cuối đời ông chỉ làm đến chức Ngự sử đài Chiếu khám là một chức quan nhỏ (hàm Tòng Bát phẩm) rồi nghỉ hưu và trở thành thầy đồ dạy học. Chinh phụ ngâm là tác phẩm thơ chữ Hán xưa ra đời trong cảm hứng của Đặng Trần Côn trước tình hình xã hội loạn lạc bởi binh biến. Đây là tác phẩm thơ được sáng tác theo thể trường đoản cú (các câu thơ dài ngắn không đều nhau), thuộc loại thơ trữ tình. Nếu thể loại tự sự là kể lại, miêu cả sự kiện diễn ra bên ngoài một cách khách quan thì thơ trữ tình là sự miêu tả thế giới nội tâm bằng các diễn biến bên trong tâm hồn.
Trong thơ trữ tình có thể kể sự việc nhưng kể việc cũng chỉ để diễn tả cảm xúc, nội tâm nhân vật. Dịch giả là bà Đoàn Thị Điểm (1705-1748), hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, người làng Hiếu Phạm, huyện Văn Giang (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) và là em gái ông Giám sinh Đoàn Luân. Bà nổi tiếng là người thông mông và đẹp người đẹp nết, có tài văn thơ và giỏi việc nữ công. Năm lên sáu tuổi đã làu thông Tứ Thư Ngũ Kinh.
Bà có soạn tập Tục Truyền Kỳ và diễn Nôm bài Chinh Phụ ngâm này. Mãi đến năm bà 37 tuổi (1942), bà nhận lời lấy Nguyễn Kiều, một tiến sĩ nổi tiếng hay chữ đã góa vợ. Nhưng sau khi cưới xong thì Nguyễn Kiều phải đi sứ sang Trung Quốc trong 3 năm, bà Điểm ở nhà thay chồng nuôi con, trông ngóng mòn đêm đợi chồng trở về. Có lẽ trong thời gian này bà đã dịch ra quốc âm tập thơ “Chinh phụ ngâm”.
8 Bản diễn nôm hiện hành gồm 408 câu thơ và một số văn bản dịch khác thì có 412 câu. Các dịch giả như Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khả đang được nghiên cứu rằng ai mới là người dịch Chinh Phụ ngâm. Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Vũ Hoạt thì bà Đoàn Thị Điểm là người đã dịch bản Hán văn của Chinh Phụ ngâm sáng bản diễn Nôm với hình thức thể thơ của dân tộc là song thất lục bát vì xuất phát từ hoàn cảnh tương đồng của bà với người chinh phụ trong tác phẩm. Hoàn cảnh và tâm sự của Đoàn Thị Điểm có phần tương tự như hoàn cảnh và tâm sự của người chinh phụ trong khúc ngâm của Đặng Trần Côn.
Như vậy, tài năng kiệt xuất kết hợp với tâm trạng đồng cảm sâu sắc, Hồng Hà Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã chuyển ngữ tác phẩm chữ Hán của Đặng Trần Côn ra chữ Nôm bằng thể thơ song thất lục bát vô cùng uyển chuyển, điều này cho thấy một tài năng nghệ sĩ rất tài hoa ở người phụ nữ xưa. Bởi nó được chuyển ngữ qua những cảm xúc được rút ra từ gan ruột, nước mắt xót đau dầm dề của chính người chuyển ngữ cho nên thật dễ hiểu khi sức lan tỏa của nó là rất lớn.