Chương 1. Trình bày tổng quan về phân tích độ tin cậy kết cấu theo thời gian, sự cần thiết, ý của đề tài; mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận văn; tình hình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. Trình bày tổng quan lý thuyết về ăn mòn như cơ chế ăn mòn, các mô hình ăn mòn và công thức dự đoán tỉ lệ ăn mòn theo thời gian. Lý thuyết về phần tử hữu hạn cho khung phẳng, các điều kiện kiểm tra khung và lý thuyết phân tích đánh giá độ tin cậy bằng phương pháp đánh giá độ tin cậy bậc nhất FORM.
Trình bày áp dụng tính toán ví dụ số cho 2 khung phẳng, một ví dụ dùng để so sánh kết quả đã được nghiên cứu, một ví dụ phân tích và đánh giá độ tin cậy khung phẳng của một công trình đã được xây dựng thực tế. Trình bày những kết quả đạt được, đưa ra những đánh giá và nhận xét và hướng phát triển tiếp theo để hoàn thiện hơn đề tài này. Tài liệu tham khảo: trích dẫn các tài liệu liên quan phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài. Phụ lục: một số đoạn mã lập trình Matlab chính để tính toán các ví dụ số trong Chương 3.
12 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này sẽ trình bày các lý thuyết liên quan đến đề tài gồm: lý thuyết tổng quan về ăn mòn thép, lý thuyết phần tử hữu hạn cho khung phẳng, lý thuyết phân tích độ tin cậy và phương pháp phân tích độ tin cậy có xét đến yếu tố ăn mòn theo thời gian. Lý thuyết tổng quan về ăn mòn thép Nghiên cứu của Koch năm 2002 [28] đã chỉ ra rằng, tổn thất kinh tế do quá trình ăn mòn tại Hoa Kỳ trong một năm lên đến 179 tỉ đô la cho 26 ngành công nghiệp và 276 tỉ đô mỗi năm (3.14% tổng sản phẩm trong nước) cho toàn bộ ngành công nghiệp Hoa Kỳ và ở Úc, người ta ước tính tổng tổn thất của sự ăn mòn lên đến 32 tỉ đô la mỗi năm. Kết cấu thép đã bị ăn mòn không những ảnh hưởng đến kinh tế, tính thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng đến sức chịu tải, chất lượng cũng như độ bền, độ an toàn của công trình. Vì vậy, việc hiểu biết đầy đủ được cơ chế của sự ăn mòn thép, các hình thức ăn mòn, tỷ lệ mất mát do ăn mòn và những ảnh hưởng của nó là thực sự cần thiết.
Để có cái nhìn tổng quan hơn về ăn mòn, trong phần này của luận văn sẽ trình bày ngắn gọn các lý thuyết về ăn mòn, các hình thức ăn mòn phổ biến, những ảnh hưởng của môi trường đến tốc độ ăn mòn, cấu tạo các lớp gỉ sắt, công thức dự đoán tỉ lệ mất mát do ăn mòn theo thời gian. Từ đó, tác giả sẽ đưa công thức tính toán về mất mát độ dày thép vào quá trình phân tích đánh giá độ tin cậy khả năng chịu lực của kết cấu theo thời gian. Cơ chế ăn mòn Quá trình ăn mòn được định nghĩa là sự xuống cấp của một kim loại do phản ứng điện hóa của nó với môi trường. Sắt và thép carbon là vật liệu nhiệt động không ổn định, quá trình tự nhiên sẽ đưa những vật liệu này có xu hướng trở về trạng thái nguyên thủy của nó và quá trình nhiệt động lực học sẽ ở trạng thái ổn định tức là các sản phẩm gỉ sắt sẽ hình thành [9].
Khi thép bị ăn mòn tấn công trong môi trường có điều kiện ẩm và không khí sạch, sản phẩm oxi hóa đầu tiên là ion sắt II với sự oxi hóa thấp nhất có tên là Fe+2. 13 Bởi vì có hơi ẩm hòa tan trong không khí, ion sắt II có thể phản ứng với hơi nước và tạo oxit sắt kết tủa Fe(OH)2, cái này có thể bị oxi hóa nhanh hơn lên dạng sắt III Fe+3, để tạo kết tủa dạng keo của hydroxit sắt III [8]. Các loại khác nhau của oxit sắt có thể được hình thành tùy thuộc vào điều kiện tiếp xúc: Fe + H2O + O2 = Fe(OH)2/ Fe3O4/ Fe2O3/… Phản ứng tổng thể này có thể được chia thành hai phản ứng, được gọi là phản ứng phân cực ở anode và cathode. Phản ứng anode: xảy ra quá trình oxi hóa sắt tạo thành các ion kim loại màu và sinh ra các electron: Fe = Fe2+ + 2 e− Phản ứng cathode: các electron sinh ra từ quá trình oxi hóa sắt anode được hấp thụ bởi oxi có trong nước để tạo thành ion OH 1/2O2 + H2O + 2e− = 2 OH− Tổng đại số của hai phản ứng này được gọi là phản ứng tế bào ăn mòn: Fe + O2 + H2O = Fe2+ + 2OH− Hydroxit sắt Fe(OH)2 có xu hướng kết tủa trên bề mặt thép và sản phẩm này có thể trải qua nhiều phản ứng để tạo ra nhiều dạng khác nhau của hydroxit và oxit tùy thuộc vào sự sẵn có của oxi, nước và các tạp chất trong không khí.
Các hình thức ăn mòn [9] Trong quá trình phân tích sự ăn mòn, hai vấn đề quan trọng cần quan tâm là loại ăn mòn và quá trình ăn mòn. Theo các nghiên cứu của Albrecht và Naeemi, (1984) [26], Fontana, (1986) [30] và Kayser JR, (1988) [24], một số hình thức ăn mòn thường hiện diện trong các kết cấu thép được chỉ ra ở Hình 2. Các kiểu ăn mòn phổ biến [9]. Ăn mòn đều (Uniform Corrosion) Ăn mòn đều xuất hiện trên toàn bộ bề mặt kim loại.
Nó làm giảm tổng quát độ dày tiết diện. Đối với một kết cấu thép tiếp xúc với ngoài môi trường tự nhiên, ăn mòn đều là một trong những hình thức phổ biến nhất ảnh hưởng đến các phần tử của kết cấu [8]. Ăn mòn lỗ rỗ (Pitting corrosion) Ăn mòn lỗ rỗ xuất hiện chỉ ở khu vực nhỏ của bề mặt kim loại. Ăn mòn lỗ rỗ có thể xuyên thủng kim loại trong thời gian ngắn.
Thành phần chính của ăn mòn lỗ rỗ là khí oxi hòa tan. Loại ăn mòn này thì nguy hiểm, bởi nó có thể gây ra ứng suất tập trung và khó để kiểm tra. Đối với thép carbon, những lỗ này có khuynh hướng lớn lên theo hình bán cầu như Hình 2.3 và vài lỗ chồng lên nhau tạo nên ăn mòn lớn hình vỏ sò. Cơ chế và hình ảnh ăn mòn cục bộ.
Ăn mòn tiếp xúc (Galvanic corrosion) Ăn mòn tiếp xúc xuất hiện khi hai kim loại khác nhau tiếp xúc với nhau. Các ví dụ thường thấy trong nước như thép và đồng thau, nhôm và thép, kẽm và thép, kẽm và 15 đồng. Trong ví dụ trên thì kim loại đứng trước sẽ bị ăn mòn nếu có ăn mòn tiếp xúc xảy ra. Ăn mòn ở các khe hay vết nứt (Crevice corrosion) Ăn mòn ở khe xuất hiện ở khu vực góc nhỏ, chẳng hạn lớp vỏ sơn hoặc giữa mặt ghép kín.
Nó thường được gây ra bởi một nồng độ thấp của oxi hòa tan trong hơi ẩm chứa trong khe hở. Lỗ rổ sâu có thể tạo khu vực cho ăn mòn khe xuất hiện. Cơ chế và hình ảnh ăn mòn ở khe. Ăn mòn do ứng suất (Stress corrosion) Ăn mòn do ứng suất là một dạng ăn mòn mở rộng rất nguy hiểm, quá trình ăn mòn diễn ra có sự kết hợp của ứng suất xuất hiện và tình trạng đặc biệt của môi trường.
Kết cầu thép có thể bị nứt trong môi trường có tính axit cao và hợp kim chống ăn mòn có thể bị nứt trong môi trường muối clorua. Ăn mòn mỏi (Fatigue corrosion) Sự kết hợp giữa ăn mòn và độ bền mỏi được hiểu như độ mỏi do ăn mòn, có thể làm giảm tuổi thọ của kết cấu. Độ mỏi do ăn mòn là một hiện tượng phức tạp, xuất hiện trong kim loại do ứng suất lặp trong môi trường ăn mòn. Bất cứ sự tạo thành ứng suất có tính chu kỳ cũng trở nên nguy hiểm nếu có sự hiện diện của các tác nhân ăn mòn.
Môi trường có SO2 đặc biệt nguy hiểm đối với loại này. Phân loại các môi trường ăn mòn [26] Ăn mòn do khí quyển là kết quả của sự kết hợp của hai yếu tố chính: oxi và độ ẩm nước ở hình thức lỏng. Nếu một trong những yếu tố này vắng đi, ăn mòn không xảy 16 ra. Trong không khí khô như dưới điểm đóng băng hoặc ở độ ẩm tương đối RH nhỏ hơn 60%, thép không bị gỉ.
Ăn mòn do đó không đáng kể ở vùng cực, sa mạc nóng. Sự ăn mòn do khí quyển tăng mạnh nếu không khí bị ô nhiễm nặng. Đặc biệt không khí trong vùng lân cận của ống khói khu công nghiệp có chứa lưu huỳnh dioxit (SO2) và không khí môi trường biển. Sự ăn mòn khí quyển do đó sẽ lớn trong khu vực công nghiệp, đô thị và ven biển.
Sự ăn mòn cao hơn nữa nếu bề mặt kim loại bị bao phủ bởi các lớp như bụi bẩn vì độ ẩm và muối khi đó được giữ lại trong thời gian lâu hơn. Bầu khí quyển có thể được phân loại như môi trường đô thị, môi trường biển và môi trường nông thôn [26]. Sự ăn mòn của thép dọc bờ biển là lớn hơn trong bầu không khí trong môi trường đô thị và nông thôn, môi trường đô thị nói chung là ăn mòn cao hơn môi trường nông thôn. Môi trường nông thôn Tỉ lệ ăn mòn thép ở môi trường này thường thấp do không khí chứa ít các hóa chất xâm thực.
Các yếu tố ăn mòn tồn tại trong môi trường nông thôn bao gồm độ ẩm, một lượng tương đối nhỏ lưu huỳnh oxit (SOx), cacbon dioxit (CO2). Amoniac (NH3) là kết quả của sự phân hủy các loại phân bón nông nghiệp hoặc phân động vật. Từ sự hiện diện nhỏ của các yếu tố này nên môi trường nông thôn không xâm thực nhiều đến thép. Môi trường đô thị Môi trường đô thị và công nghiệp có chứa các chất gây ô nhiễm trong quá trình sản xuất của các nhà máy gần thành phố và các phương tiện giao thông.
Các chất ăn mòn chủ yếu được tìm thấy trong môi trường này là lưu huỳnh oxit (SOx) và nitơ oxit (NOx). Môi trường biển Môi trường biển nói chung là xâm thực thép nhiều nhất. Hơi ẩm giữ lại muối trên bề mặt thép, cùng với sự hiện diện của các ion clorua gây ra ăn mòn nghiêm trọng tất cả kết cấu thép. Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ ăn mòn do khí quyển [8] Ăn mòn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như thời gian của tình trạng ẩm ướt, đặc tính vật liệu, nhiệt độ, bức xạ mặt trời, các vi sinh vật, các tạp chất và thành phần của sản phẩm ăn mòn.
Các vị trí cụ thể của phần tử cũng rất quan trọng đối với việc ăn mòn ảnh hưởng lên nó.