Tổng quan nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa mạnh mẽ tại Thành phố Hồ Chí Minh tạo ra áp lực giao thông vô cùng lớn, đòi hỏi việc phát triển hệ thống hạ tầng không gian ngầm hiện đại. Dự án Xây dựng Tuyến Đường sắt Đô thị Số 01 Tuyến Bến Thành – Suối Tiên, đặc biệt là gói thầu CP-1b, đánh dấu bước tiến tiên phong khi áp dụng công nghệ khiên đào hầm cân bằng áp lực đất EPB TBM hiện đại. Công trình bao gồm tuyến hầm khoan đôi dài xấp xỉ 780m, nối liền Ga Ba Son đến Ga Nhà hát Thành phố, đi xuyên qua lòng đô thị lịch sử với chiều sâu chôn hầm biến thiên từ 12m đến 25m.

Vấn đề cốt lõi đặt ra trong quá trình khoan kích hầm ngầm là sự mất mát thể tích đất và tái phân bố ứng suất địa tầng, trực tiếp gây ra độ lún bề mặt nền đường. Tuyến hầm chạy ngầm bên dưới các trục giao thông huyết mạch như đường Tôn Đức Thắng, Ngô Văn Năm, Nguyễn Siêu, nơi tập trung dày đặc các công trình kiến trúc cao tầng, nhà phố móng nông và các di sản văn hóa trọng điểm như Nhà hát Thành phố. Nếu không kiểm soát chính xác chuyển vị nền đất, độ lún cục bộ và lún lệch có thể vượt quá ngưỡng cho phép, đe dọa trực tiếp đến an toàn kết cấu công trình lân cận.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích cơ chế biến dạng lún nền đường trong quá trình thi công khiên đào, xây dựng mô hình mô phỏng số phần tử hữu hạn trên phần mềm Plaxis 2D, và hiệu chỉnh bộ thông số co vỏ hầm dựa trên dữ liệu quan trắc thực địa. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu địa kỹ thuật định lượng và giải pháp dự báo lún chuẩn xác cho toàn bộ mạng lưới đường sắt đô thị Thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết giải tích và cơ học đất phi tuyến chuyên sâu để mô tả hiện tượng lún nền do thi công hầm ngầm. Nền tảng kinh điển đầu tiên là mô hình phân phối chuẩn Gaussian của Peck và Schmidt, xác định hình dạng phễu lún bề mặt qua phương trình đường cong đối xứng, liên kết trực tiếp giữa độ lún cực đại trên tim hầm với hệ số bề rộng vùng lún lõm theo phương ngang. Tiếp theo, lý thuyết bảo toàn và biến dạng thể tích của Cording và Hansmire cùng cải tiến của Atkinson và Potts được áp dụng để làm rõ mối quan hệ giữa thể tích đất mất mát tại chu vi gương đào và thể tích phễu lún mặt đất.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp mô hình không gian ba chiều của Attewell và Woodman cùng công thức hiệu chỉnh của Fang Y nhằm bổ sung hệ số bề rộng vùng lún theo phương dọc, phản ánh chuẩn xác tác động động học khi đầu khiên đào dịch chuyển. Các khái niệm kỹ thuật mấu chốt được làm rõ gồm: Hệ số mất mát thể tích đại diện cho phần dung tích đất bị thâm hụt trong chu trình đào; Hệ số bề rộng vùng lún lõm xác định khoảng cách từ trục hầm đến điểm uốn của đường cong lún; Tỷ lệ co vỏ hầm trong mô hình số đại diện cho độ hở công nghệ tại đuôi khiên; và Biến dạng cố kết phụ thuộc vào sự tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng trong nền đất dính.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào của luận văn được tổng hợp toàn diện từ hồ sơ khảo sát địa kỹ thuật thực tế của gói thầu CP-1b. Cỡ mẫu khảo sát gồm 44 hố khoan địa chất, trong đó có 40 hố khoan giai đoạn mời thầu và 4 hố khoan bổ sung ký hiệu ABH-1 đến ABH-4 thực hiện vào tháng 3 năm 2015, kết hợp 12 thí nghiệm xuyên tĩnh CPT, 23 thí nghiệm nén trong hố khoan, 32 thí nghiệm thấm và 10 giếng quan trắc mực nước ngầm chuyên dụng. Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật lấy mẫu điển hình dọc tuyến, lựa chọn 10 mặt cắt địa chất đại diện từ lý trình KM 0+861 đến KM 1+534 để phản ánh đầy đủ sự biến đổi địa tầng từ lớp đất bồi tích phù sa trẻ đến tầng lũ tích cổ.

Phương pháp phân tích số phần tử hữu hạn 2D thông qua phần mềm Plaxis 8.5 được lựa chọn vì khả năng mô phỏng chân thực tương tác phức tạp giữa vỏ hầm bê tông cốt thép, tấm gia cố móng và môi trường đất nền nhiều lớp. Lý do lựa chọn mô hình số thay vì tính toán thuần lý thuyết là để khắc phục nhược điểm bỏ qua áp lực nước ngầm và biến dạng phi tuyến của đất yếu trong các công thức giải tích cổ điển. Toàn bộ quá trình nghiên cứu, mô phỏng và đối soát thực nghiệm được thực hiện nghiêm ngặt trong timeline từ ngày 26 tháng 02 năm 2018 đến ngày 17 tháng 06 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình mô phỏng số và đối chiếu thực nghiệm trên 10 mặt cắt đại diện đã mang lại các phát hiện định lượng then chốt sau:

Hệ số co vỏ hầm 1,5% là tham số mô hình hóa tối ưu nhất trong phần mềm Plaxis 8.5. Khi thiết lập hệ số này cố định ở mức 1,5% dọc theo toàn bộ 780m tuyến hầm, kết quả tính toán độ lún bề mặt tại đa số các mặt cắt đạt độ tương thích vượt trội với dữ liệu quan trắc trắc địa thực tế, sai số tuyệt đối được kiểm soát trong khoảng 1mm đến 3mm.

Địa tầng khống chế mạnh mẽ biên độ chuyển vị. Tại các phân đoạn hầm đi sâu vào lớp cát chặt As2 có chỉ số SPT từ 15 đến 41 hoặc lớp sét mịn cứng Dc có chỉ số SPT trên 34, độ lún bề mặt chỉ dao động từ 8mm đến 18mm. Ngược lại, tại các mặt cắt có lớp sét dẻo mềm Ac2 dày đến 4,5m với chỉ số SPT trung bình chỉ đạt giá trị 2 nằm sát đỉnh hầm, độ lún tăng vọt lên mức 28mm đến 38mm, tăng hơn 65% so với đoạn nền cát chặt.

Phạm vi ảnh hưởng của vùng lún ngang đạt bề rộng tối đa từ 25m đến 33,1m tính từ tim tuyến hầm. Độ lún đứng tập trung cao nhất ngay trên trục tim hầm và giảm dần theo quy luật hàm mũ ra hai biên. Các công trình sử dụng móng nông hoặc cọc cừ tràm nằm trong hành lang cách tim hầm dưới 15m chịu mức lún cục bộ từ 12mm đến 25mm, trong khi các công trình móng cọc sâu bê tông cốt thép chịu ảnh hưởng chuyển vị không đáng kể dưới 5mm.

Sai lệch cục bộ xuất hiện tại một số vị trí chuyển tiếp địa chất phức tạp, nơi độ lún thực tế sai khác khoảng 15% đến 20% so với mô hình lý thuyết. Nguyên nhân xuất phát từ sự biến thiên áp lực vữa ép đuôi khiên và sự dao động cục bộ của mực nước ngầm tự do trong khoảng 1,67m đến 3,41m bên dưới mặt đất tự nhiên.

Thảo luận kết quả

Các kết quả phân tích cho thấy độ lún bề mặt đô thị chịu sự chi phối tổng hòa từ ba nhóm nguyên nhân: sự mất cân bằng áp lực tại gương đào khi máy EPB TBM vận hành dưới áp lực 7 bar, lực ma sát cơ học giữa vỏ kim loại khiên đào với thành đất xung quanh, và hiện tượng thoát ứng suất tức thời tại khe hở thi công trước khi vữa chèn lấp đông kết hoàn toàn. Biến dạng ngắn hạn này chiếm tới 70% tổng chuyển vị lún toàn phần, trong khi biến dạng cố kết lâu dài do hạ áp lực nước lỗ rỗng chiếm khoảng 30% còn lại.

Khi so sánh với các công bố khoa học quốc tế, kết quả này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của Sengupta tại tuyến Metro Kolkata, nơi độ lún hầm trong nền sét cát sâu 17m đến 24m được ghi nhận từ 0,6mm đến 6mm với góc nghiêng công trình 1:1600. Đồng thời, nghiên cứu củng cố nhận định của Võ Phán và Nguyễn Quang Khải tại Thành phố Hồ Chí Minh, khẳng định độ lún giảm mạnh theo chiều sâu đặt hầm, từ mức 125,82mm ở độ sâu 10m xuống còn 17,83mm ở chiều sâu 40m.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan và khoa học thông qua hệ thống biểu đồ phân bố lún dạng Gauss đối xứng, so sánh trực tiếp đường cong quan trắc thực địa với đường cong phần tử hữu hạn. Bên cạnh đó, bảng tổng hợp biến dạng tương ứng với các cấp co vỏ hầm từ 0,5% đến 2,5% giúp trực quan hóa rõ nét độ nhạy của biến dạng nền theo từng thông số công nghệ thi công.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết luận thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể nhằm nâng cao độ an toàn cho các công trình ngầm đô thị:

Chuẩn hóa hệ số co vỏ hầm 1,5% trong quy trình mô phỏng thiết kế Plaxis 2D cho toàn bộ các tuyến Metro chạy qua vùng địa tầng phù sa bồi tích của Thành phố Hồ Chí Minh. Chủ thể thực hiện là các đơn vị tư vấn thiết kế và thẩm tra địa kỹ thuật, với mục tiêu cắt giảm sai số dự báo lún xuống dưới 10%, triển khai áp dụng trong giai đoạn lập báo cáo nghiên cứu khả thi và thiết kế kỹ thuật kéo dài từ 3 đến 6 tháng.

Kiểm soát chặt chẽ thông số vận hành máy đào EPB TBM và áp lực bơm vữa lấp khe hở đuôi khiên. Chủ thể thực hiện là nhà thầu thi công phối hợp cùng kỹ sư tư vấn giám sát, duy trì áp lực vữa chèn lưng vỏ hầm ổn định ở mức 1,5 bar đến 2,5 bar, hạn chế tỷ lệ co ngót thể tích vữa dưới 2%, thực hiện liên tục 24/7 trong suốt quá trình kích đào hầm từ 12 đến 24 tháng.

Thiết lập hệ thống quan trắc lún tự động và triển khai phương án gia cố bảo vệ các công trình móng nông hiện hữu trong phạm vi bán kính ảnh hưởng 15m tính từ tim hầm. Chủ thể thực hiện là Ban Quản lý Đường sắt đô thị và nhà thầu chính, mục tiêu duy trì độ lún công trình lịch sử và dân dụng dưới ngưỡng an toàn 10mm đến 20mm, hoàn thành trước khi đầu khiên đào tiếp cận công trình tối thiểu 20m.

Xây dựng ngân hàng dữ liệu địa kỹ thuật không gian 3D và ứng dụng công nghệ quan trắc vi sai theo thời gian thực. Chủ thể thực hiện là Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành, hướng tới mục tiêu tự động hóa cập nhật dữ liệu chuyển vị định kỳ mỗi 1 giờ, nằm trong kế hoạch quản lý không gian ngầm đô thị giai đoạn 2025 đến 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Kỹ sư thiết kế địa kỹ thuật và công trình ngầm: Luận văn cung cấp trọn bộ thông số địa chất, đặc tính cơ lý các lớp đất bồi tích Thành phố Hồ Chí Minh và quy trình thiết lập mô hình Plaxis chuẩn mực, giúp tối ưu hóa phương án kết cấu vỏ hầm và dự báo chính xác độ lún nền.

Ban quản lý dự án và các nhà thầu thi công hạ tầng đường sắt đô thị: Tài liệu là cẩm nang hữu ích trong việc xây dựng biện pháp thi công khiên đào EPB TBM, kiểm soát áp lực gương đào, quản lý khe hở thi công và lập kế hoạch ứng phó rủi ro lún nứt công trình lân cận.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Địa kỹ thuật Xây dựng: Luận văn đóng vai trò tài liệu tham khảo học thuật giá trị, kết hợp hài hòa giữa cơ sở lý thuyết giải tích kinh điển và phương pháp mô phỏng số thực chiến gắn liền dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia.

Cơ quan quản lý quy hoạch và xây dựng đô thị: Cung cấp góc nhìn định lượng sâu sắc về hành lang an toàn công trình ngầm, làm cơ sở xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật và định hướng quy hoạch không gian ngầm bền vững tại các siêu đô thị.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao hệ số co vỏ hầm 1,5% được chọn làm giá trị chuẩn trong mô phỏng Plaxis 2D cho tuyến Metro số 01? Hệ số co 1,5% phản ánh chính xác nhất độ rỗng công nghệ tạo ra giữa đường kính đào của đầu cắt và đường kính ngoài của vỏ hầm bê tông đúc sẵn, đồng thời thể hiện sự bù đắp của lượng vữa bơm chèn đuôi khiên trong điều kiện địa chất Thành phố Hồ Chí Minh. Thực nghiệm mô phỏng trên 10 mặt cắt cho thấy thông số này tạo ra đường cong phân phối lún trùng khớp nhất với dữ liệu đo đạc trắc địa thực tế.

Các công trình kiến trúc lịch sử như Nhà hát Thành phố bị ảnh hưởng như thế nào khi máy TBM vận hành qua? Nhờ việc kiểm soát nghiêm ngặt áp lực cân bằng đất tại gương đào và chiều sâu hầm đạt trên 20m tại khu vực này, độ lún bề mặt nền đất được kiểm soát chặt chẽ ở mức dưới 10mm. Theo tiêu chuẩn phân loại hư hại của Attewell, mức chuyển vị này thuộc nhóm bỏ qua được, hoàn toàn không gây nứt vỡ hay suy giảm an toàn chịu lực của kết cấu móng Nhà hát.

Máy đào hầm EPB TBM có ưu thế vượt trội gì so với phương pháp đào hở trong lòng đô thị? Công nghệ khiên đào EPB TBM sử dụng chính đất đào trộn phụ gia polymer để duy trì áp lực cân bằng gương đào dưới 7 bar, hạn chế tối đa sự xáo trộn địa tầng xung quanh và duy trì mực nước ngầm ổn định. Phương pháp này giảm thiểu đến 80% diện tích chiếm dụng mặt bằng đường phố, bảo toàn hoạt động giao thông trên các trục đường Tôn Đức Thắng, Ngô Văn Năm so với phương pháp đào mở truyền thống.

Thành phần biến dạng nào chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng độ lún mặt đất do khoan hầm? Biến dạng ngắn hạn tức thời tại thời điểm đuôi khiên đào đi qua mặt cắt chiếm tỷ trọng lớn nhất, lên đến khoảng 70% tổng độ lún chung. Nguyên nhân chính là do sự giải phóng ứng suất tự nhiên vào khoảng hở thi công trước khi vữa xi măng chèn khe đông cứng hoàn toàn. Biến dạng cố kết lâu dài do thoát nước lỗ rỗng chỉ chiếm khoảng 30% còn lại.

Phạm vi hành lang an toàn cần đặc biệt theo dõi đối với các công trình hiện hữu là bao nhiêu? Hành lang ảnh hưởng trực tiếp của vùng lún ngang hầm trải rộng từ 25m đến 33,1m tính từ tim hầm. Đặc biệt, các công trình sử dụng móng nông hoặc cừ tràm nằm trong phạm vi 15m tính từ trục hầm là khu vực có độ dốc lún lớn nhất, bắt buộc phải lắp đặt mốc quan trắc biến dạng tự động và có phương án gia cố móng trước khi máy đào tiếp cận.

Kết luận

Nghiên cứu mang lại những đóng góp khoa học và thực tiễn mang tính đột phá cho lĩnh vực địa kỹ thuật công trình ngầm đô thị:

  • Luận văn hoàn thiện quy trình phân tích và dự báo độ lún bề mặt cho công nghệ khiên đào EPB TBM dựa trên dữ liệu thực tế đầu tiên tại Việt Nam của Tuyến Metro số 01 Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Xác lập bộ thông số mô phỏng số chuẩn hóa trên phần mềm Plaxis 2D với hệ số co vỏ hầm 1,5%, giúp kết quả tính toán tiệm cận hoàn hảo với dữ liệu quan trắc thực địa.
  • Làm rõ quy luật tương tác giữa các đơn vị địa tầng bồi tích phù sa và lũ tích cổ với biên độ phễu lún, chỉ ra vùng ảnh hưởng nguy hiểm trong phạm vi 15m tính từ tim hầm đối với công trình móng nông.
  • Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy để đề xuất hệ thống giải pháp kiểm soát áp lực vữa đuôi khiên và quan trắc lún tự động nhằm bảo vệ tuyệt đối các di sản kiến trúc trên mặt đất.
  • Định hướng các bước nghiên cứu tiếp theo trong giai đoạn 2025 đến 2028 cần mở rộng mô phỏng không gian 3D tương tác phức tạp giữa hầm đôi xếp chồng và hệ móng cọc sâu của các tòa nhà cao tầng liền kề.

Các kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo then chốt cho các kỹ sư, nhà thầu và cơ quan quản lý. Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp công nghệ và mô hình dự báo từ luận văn sẽ đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các giai đoạn mở rộng mạng lưới giao thông ngầm hiện đại của thành phố.