Phân Tích Công Ty và Định Giá Cổ Phiếu: Tóm Tắt và Hướng Dẫn

Giáo trình phân tích đầu tư chứng khoán phần 2 của PGS TS Nguyễn Thị Minh Huệ cung cấp kiến thức chuyên sâu và ứng dụng thực tiễn trong đầu tư.

Người đăng

Ẩn danh
181
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

10. CHƯƠNG 10: PHÂN TÍCH CÔNG TY VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU

10.1. PHÂN TÍCH CÔNG TY VÀ LỰA CHỌN CỔ PHIẾU

10.2. BÌNH GIÁ CỔ PHIẾU ƯU ĐÃI

10.3. ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU THƯỜNG

10.3.1. Mô hình chiết khấu luồng cổ tức (DDM)

10.3.2. Định giá cổ phiếu thường - khoảng thời gian nắm giữ là một năm

10.3.3. Định giá cổ phiếu thường - Trường hợp nắm giữ cổ phiếu nhiều năm

10.3.4. Định giá cổ phiếu thường - Mô hình tăng trưởng 2 giai đoạn

10.3.5. Xác định tỷ lệ chiết khấu - kcs

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 10 PHÂN TÍCH CÔNG TY VÀ ĐỊNH GIÁ CỎ PHIẾU Tóm tắt nội dung Phân tích công ty với trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng của công ty (nội dung chương 6) nhằm trợ giúp các nhà đầu tư trong việc ra quyết định lựa chọn cỗ phiếu. Từ đó các nhà phân tích, các nhà dầu tư có thể vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, vừa xem xét chỉ tiết hoạt động tài chính công ty để nhậ phán đoán, dự báo và đưa ra các quyết định tài chính, quyết định tài trợ và quyết định đầu tư. Bên cạnh đó, việc ra quyết định đầu tư và lựa chọn cỗ phiếu để đầu tư còn được hỗ trợ bởi việc định giá cổ phiếu. Xác định giá trị hợp lý/ giá trị nội tại của cỗ phiếu so sánh với giá trị thị trường hiện tại của cỗ phiếu, để ra các quyết định đầu tư đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư. Chính vì vậy, các phương pháp và mô hình định giá cổ phiếu sẽ được nghiên cứu trong chương này 10. PHÂN TÍCH CÔNG TY VÀ LỰA CHỌN CÓ PHIẾU Nhà đầu tư thực hiện hoạt động phân tích cơ bản phải trải qua ba giai đoạn: 1) phân tích vĩ mô nền kinh tế và thị trường cô phiếu nhằm xác định ty trọng vốn dau tư vào cỗ phiếu; 2) phân tích các ngành kinh doanh nhằm xác định những ngành có thu nhập trên mức rủi ro trung bình. Lúc này nhà đầu tư phải trả lời câu hỏi cuối cùng trong quy trình phân tích cơ bản; 3) có những công ty nào trong ngành kinh doanh đã được lựa chọn là tốt nhất và cỗ phiếu đang ở dưới giá trị hay không? Nói cách khác, công ty được lựa chọn là những công ty mà, giá trị của cổ phiếu lớn hơn giá thị trường, hoặc tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của cô phiếu ngang bằng hay lớn hơn tỷ suất lợi nhuận yêu câu. Phân tích công ty và sự lựa chọn cỗ phiếu có sự khác biệt: Cổ phiếu của những công ty tốt không nhất thiết là khoản dau tư tốt. Việc phân tích cho phép đánh giá về chất lượng của công ty, đội ngũ quản lý và triển vọng của công ty trong tương lai. Tuy nhiên, giá trị của một công ty không phải là sự phản ánh nhu cầu đầu tư vào cỗ phiếu của công ty đó. Trong lựa chọn cỗ phiếu, nhà dầu tư phải so sánh giá trị thực của một cổ phiếu với giá trị thị 317 trường để quyết định xem có nên dau tư vào cổ phiếu đó không. Cổ phiếu của một công ty tốt với đội ngũ quản lý có năng lực và kết quả hoạt động cao có thể có thị giá quá cao so với giá trị thực, loại cổ phiếu này không dang đầu tư. Ngược lại, cổ phiếu của một công ty có kết quả hoạt động kinh đoanh không tôt bằng, song giá thị trường của cổ phiếu lại thấp hơn giá trị thực của nó. Việc đầu tư loại cổ phiếu này có thê giúp cho nhà đầu tư kiếm được thu nhập từ tăng giá cổ phiếu. Trong chọn lựa cỏ phiếu, cần làm rõ một số khái niệm được trình bày sau đây. Công ty tăng trưởng. và cỗ phiếu tăng trưởng Công ty tăng trưởng là những công ty có bề dày lịch sử, phát triển lớn mạnh, có mức tăng doanh thu và thu nhập lớn hơn mức trung bình. Khái niệm này có thể dẫn đến sự nhằm lẫn do bay kế toán, hoặc nhiều công ty có sự lớn mạnh dựa vào liên doanh liên kết hoặc những cách thức khác. Các nhà tài chính định nghĩa một công ty tăng trưởng là một doanh nghiệp với đội ngũ quản lý có năng lực và có cơ hội thực hiện đầu tư đề thu được tỷ suất lợi nhuận cao hơn tỷ suất lợi nhuận yêu cầu của công ty. Ví dụ, một công ty tăng trưởng có cơ cấu vốn ở mức chỉ phí vốn trung bình là 10%, có khả năng quản lý cũng như cơ hội đầu tư vào các quỹ với tỷ suất lợi nhuận từ 15% đến 20%. Kết quả của cơ hội đầu tư này là doanh số bán và thu nhập của công ty sẽ lớn hơn của công ty khác có cùng rủi ro và toàn bộ nền kinh tế. Thêm vào đó, một công ty tăng trưởng với cơ hội đầu tư trên mức trung bình thường giữ lại một phần lớn thu nhập để đầu tư vào các dự án có chất lượng cao. Điểm quan trọng là xu hướng g lại nhiều lợi nhuận và tốc độ phát triển nhanh của doanh số bán và thu nhập lại chính là kết quả của cơ hội đầu tư tốt. Những cô phiếu tăng trưởng không nhất thiết là của những công ty tăng trưởng. Một cổ phiếu tăng trưởng là một cổ phiếu có tỷ suất thu nhập cao hơn những cỗ phiếu khác trên thị trường với cùng độ rủi ro. Cổ phiế đạt được thu nhập cao là vì ở một số thời điểm, thị trường đánh giá cổ phiếu đó có giá trị kém hơn các cổ phiếu khác. Mặc dù thị trường cỗ phiếu luôn điều chỉnh giá cỗ phiếu phù hợp, nhanh chóng và chính xác để phản ánh những thông tin mới, nhưng những thông tin có sẵn thường không hoàn hảo và đầy đủ. Bởi vậy, những thông tin không hoàn hảo và đầy đủ có thể là nguyên nhân làm một cổ phiếu bị giảm giá hoặc làm giảm giá tất cả cổ phiếu ở một thời điểm nào đó. 318 Nếu cỗ phiếu ở dưới giá trị, giá của cổ phiếu đó cuối cùng sẽ tăng để phản ánh đúng giá trị gốc của nó khi xuất hiện các thông tin chính xác. Trong suốt giai đoạn điều chỉnh giá này, thu nhập thực tế vượt quá thu nhập kỳ Vọng đối với rủi ro của cổ phiếu, và cỗ phiếu này sẽ được coi như là một cổ phiếu tăng trưởng cho đến thời điểm này. Cổ DI tăng trưởng trong tương lai chính là một cô phiếu đang ở dưới giá trị rất có khả năng trở lại đúng giá trị trong thời hạn ngắn, nghĩa là những cô phiếu tăng trưởng không nhất thiết phải là của những công ty tăng trưởng. Trên thực tế, nếu các nhà đầu tư nhận ra được một công ty tăng trưởng và chiết khấu dòng tiền thu được trong tương lai một cách hợp lý, thì giá thị trường hiện tại của cô phiếu công ty đó sẽ phản ánh dòng tiền công ty kiếm được trong tương lai. Như vậy, những người đó kiếm được cổ phiếu của một công ty tăng trưởng ở mức giá thị trường chẩn» sẽ nhận được tỷ suất thu nhập phù hợp với mức độ rủi ro của cỗ phiếu, ngay cả khi công ty đạt được thu nhập vượt mức. Thực tế, trong nhiều trường hợp, nhà đầu tư có xu hướng đặt giá quá cao đối với cổ phiếu của một công ty tăng trưởng nên sẽ thu được tỷ suất lợi nhuận thấp hơn tỷ suất lợi nhuận yêu cầu tương xứng với rủi ro, cho dù sự thực là công ty đang có những triển vọng sáng sủa. Một cỗ phiếu tăng trưởng trong tương lai có thể được phát hành bởi bất kỳ loại công ty nào, chỉ cần cổ phiếu đó đang bị thị trường đánh giá dưới giá trị. Công ty phòng vệ và cỗ phiếu phòng vệ (defensive companies and defensive stocks) Công ty phòng vệ là những công ty mà thu nhập tương lai của chúng có thể ít có sự biến động khi khủng hoảng kinh tế. Những công ty này có rủi ro kinh doanh thấp và không có rủi ro tài chính vượt mức. Ví dụ điển hình của dạng này là những ngành phục vụ công cộng hoặc buôn bán tạp phẩm, cung cấp những mặt hàng thiết yếu cho tiêu dùng. Có hai khái niệm liên quan về cô phiếu phòng vệ: /h# nhát, tỷ suất lợi nhuận của một cổ phiếu phòng vệ được kỳ vọng không giảm sút trong giai đoạn xuống dốc của toàn bộ thị trường, hoặc không suy giảm quá trầm trọng như toàn thị trường; /hứ hai, mô hình CAPM đã chỉ ra rằng rủi ro của một tài sản là hiệp phương sai của tài sản đó với danh mục đầu tư của thị trường gồm các tài sản rủi ro, là rủi ro có hệ thống của một tài sản. Theo lý thuyết này, một cỗ phiếu có rủi ro hệ thống thấp (bêta nhỏ) có thể được coi như là cổ phiếu phòng vệ. Công ty có tính chu kỳ và cổ phiếu có tính chu kỳ (eyclical companies and cyclical stocks) Doanh số bán và thu nhập của công ty có tính chu ky sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi hoạt động kinh doanh. Công ty này sẽ ăn nên làm ra trong quá trình phát triển của nền kinh tế và sẽ lâm vào hoàn cảnh khó khăn khi nền kinh tế suy thoái. Mô hình thu nhập hay thay đổi này là tác động của rủi ro kinh doanh của công ty, có thể còn do rủi ro tài chính. Một cổ phiếu chu kỳ sẽ có tỷ suất lợi nhuận thay đổi lớn hơn thay đổi của tỷ suất lợi nhuận của toàn thị trường. Đối với mô hình CAPM thì các cổ phiếu này có bêta cao. Cổ phiếu của công ty chu kỳ, tất nhiên không nhất thiết là cỗ phiếu chu kỳ. Cổ phiếu chu kỳ là cỗ phiếu của bất kỳ công ty nào có tỷ suất lợi nhuận thay đổi nhiều hơn so với toàn bộ thị trường. Công ty đầu cơ và cô phiếu đầu cơ (speculative companies and stocks) Công ty đầu cơ là công ty mà tài sản bao gồm nhiều tài sản có độ rủi ro cao, nhưng cũng có khả năng sinh lợi lớn. Ví dụ điển hình của công ty đầu cơ là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thăm dò dầu lửa. Một cô phiếu đầu cơ có khả năng đạt tỷ suất lợi nhuận thấp hoặc âm và ít khả năng đạt tỷ suất lợi nhuận trung bình hoặc cao. Nó có thể là cỗ phiếu của một công ty đầu cơ, hoặc là ngược lại với một cổ phiếu tăng trưởng. Cụ thể, cổ phiếu đầu cơ là loại cô phiếu được đánh giá quá cao, vi vậy vào thời kỳ tương lai khi thị trường. điều chỉnh giá cổ phiếu về đúng giá trị thực, sẽ thu được tỷ suất lợi nhuận thấp hoặc có thể âm. Đó có thể là trường hợp của một công ty phát triển cực thịnh và cỗ phiếu đang được bán với tỷ lệ giá/thu nhập (P/E) quá cao. BINH GIA CO PHIEU UU DAI Cổ phiếu ưu đãi thường là cỗ phiếu có mức cô tức được hứa trả chắc chắn, do vậy, cổ phiếu ưu đãi có tính chất giống như trái phiếu. Tuy nhiên, trong khi trái phiếu nói chung có thời hạn xác định, phần lớn cổ phiếu ưu đãi là vô thời hạn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ